Thứ Sáu, 28 tháng 8, 2009

Thẻ Tín Dụng Không Phải Là Tiền

'Plastic is not money', thẻ tín dụng không phải là tiền. Và đó là lý do các columnist về personal finance hay phản đối về việc sử dụng Visa, MasterCard, PayPal, American Express, Discover Card, Diner's Club hay JCB.
Thẻ tín dụng (credit cards) thực ra là một khoản vay. Mội khi bạn thanh toán bằng thẻ tín dụng, thì tấm thẻ có ý nghĩa là "Tôi đồng ý trả cho hàng hoá mà tôi và công ty làm thẻ tín dụng sẽ viết hoá đơn cho tôi". Thẻ tín dụng được dùng làm phương tiện thanh toán, nhưng thực tế nó không làm đủ vai trò "phương tiện thanh toán". Thẻ tín dụng là khoản nợ, và việc thanh toán chỉ kết thúc khi người sử dụng thẻ trả các khoản nợ mà ngân hàng hay công ty phát hành thẻ sao kê mỗi tháng.
Bởi vậy , thẻ tín dụng không phải là tiền. Và nó dĩ nhiên cũng không nằm trong M1, hay M2 theo định nghĩa của giới tài chính.

Ở Mỹ, credit cards thường bị các financial planners coi là tai hoạ vì người dùng phải trả thêm 21% khi mua sắm quần áo, quà tặng, thuế... Với sự tiện dụng khi thanh toán, càng nhiều người sử dụng thì cũng có thể trở thành tại hoạ thật. MasterCard thậm chí có slogan "Some things in life are priceless, for everything else there's mastercard."
Đáng chú ý là, tỷ lệ vỡ nợ thẻ tín dụng có xu hướng gia tăng.



Tháng 5, tháng 6 lượng vỡ nợ thực tế đã tăng kỷ lục, đến tháng 8 đã giảm bớt xuống.

Ở Việt Nam, không có số liệu thống kê công bố, vì người dân Việt Nam vẫn chưa có thói quen xài thẻ tín dụng. Và hầu hết, theo tôi nghĩ, hiện thời thì chủ yếu để thanh toán các khoản phí mà buộc phải thanh toán bằng credit cards như chi phí du học, các sản phẩm bán ở nước ngoài...hoặc thanh toán tiền ăn nhà hàng của các "sếp".

Nếu bạn định sử dụng thẻ tín dụng, hãy cân nhắc các mức lãi suất và khoản phí sau (xin trích biểu phí một dịch vụ thẻ của ngân hàng Việt Nam thuộc dạng 'rẻ'):


- Phí phát hành nhanh (nếu có nhu cầu)
+ Thẻ chính 300.000 VND
+ Thẻ phụ 100.000 VND
- Phí thường niên cho khách hàng tín chấp
+ Thẻ vàng chính 200.000 VND
+ Thẻ vàng phụ 100.000 VND
+ Thẻ chuẩn chính 100.000 VND
+ Thẻ chuẩn phụ 50.000 VND
- Phí thay thế thẻ theo yêu cầu 50.000 VND
- Phí cấp lại số PIN 50.000 VND
- Phí khiếu nại (nếu chủ thẻ sai) 80.000 VND/giao dịch
- Phí rút tiền mặt 3%/số tiền giao dịch
- Phí thông báo thẻ bị thất lạc, mất cắp 200.000 VND
- Phí gửi sao kê ngoài thời hạn 3.000 VND/trang
- Phí cấp bản sao chứng từ giao dịch (khác đại lý) 80.000 VND/hóa đơn
- Phí xác nhận sử dụng thẻ và hạn mức tín dụng thẻ 50.000 VND
- Lãi vay 1,1%/tháng
- Phí trễ hạn 3%/số tiền thanh toán tối thiểu
- Phí sử dụng vượt hạn mức 15%/năm/số tiền vượt hạn mức
- Phí thay đổi hạn mức tín dụng 30.000 VND/lần thay đổi
- Phí chuyển đổi tiền tệ (thanh toán khác tiền đồng) 1,1%/số tiền giao dịch

Ngoài ra, nếu bạn làm thẻ theo dạng thế chấp hay ký quỹ (một số ngân hàng có dịch vụ này), thì bạn phải ký quỹ với một số tiền cũng khá lớn (thấp nhất cũng trên 10 triệu tùy hạn mức tín dụng). Điều này có nghĩa là, bạn chẳng làm được gì với số tiền đã ký quỹ.

Với danh mục phí như trên và khả năng bảo mật khi để lộ số thẻ, bạn cũng nên suy nghĩ trước khi quyết định.