Thứ Năm, ngày 04 tháng 7 năm 2013

There are/is a pen and a book

Đây là câu hỏi thường thấy của người học tiếng Anh làm ngôn ngữ thứ 2.

1. There are a pen and a book on the desk.
2. There is a pen and a book on the desk.

Câu nào đúng, câu nào sai?

Nhân tiện xem luôn

3. There is a pen and three books on the desk.
4. There are three books and a pen on the desk.
5. There are a pen and three books on the desk.
6. There is $1790 in my bank account. ($1790 đọc là one thousand seven hundred and ninety (US) dollars)
7. There are $1790 in my bank account.

Trả lời:

Ngôn ngữ là một thói quen.
Những người học khá, giỏi tiếng Anh thường nghĩ rằng câu "There are a pen and a book." mới đúng, vì cho rằng 1 cây viết và 1 cuốn sách cộng lại là số nhiều nên dùng there are.
Thực tế thì:

There is + danh từ số ít
There are + danh từ số nhiều
Nếu là cụm danh từ gồm nhiều thứ thì dùng there is hay there are tùy thuộc vào danh từ đi ngay sau đó.
Những câu đúng là:

2. There is a pen and a book on the desk.
3. There is a pen and three books on the desk.
4. There are three books and a pen on the desk.

Xin nhắc lại là ngôn ngữ là một thói quen, thậm chí trong văn nói người ta còn dùng there is ngay cả phía sau là danh từ số nhiều.

Nếu mổ xẻ kỹ về ngữ pháp.

There is a pen and a book on the desk = There is a pen on the desk, and there is a book on the desk. Vì thế câu này ổn.
There is a pen and three books on the desk. = There is a pen on the desk and there is three books on the desk. (Không ổn lắm ở vế thứ 2)
There are three books and a pen on the desk = There are three books and there are a pen on the desk. (Cũng không ổn ở vế thứ 2 như câu trên)

Chốt lại, nói theo như câu 2, 3, 4 thì người nước ngoài thuận miệng.

Bonus, câu 6 đúng (một khoản tiền được xem là số it; một ngàn mấy đô mà chê ít hả trời :D)

Thứ Ba, ngày 08 tháng 6 năm 2010

Phân Loại Quốc Gia

Trước đây, tôi vẫn nghĩ Việt Nam thuộc trong nhóm các thị trường mới nổi (emerging markets), nhưng trên các trang báo khi nói về emerging markets thì hầu như không hề nhắc tới Việt Nam.

Tôi xem lại cách phân loại thị trường cổ phiếu của FTSE thì mới thấy việt Nam chỉ nằm trong nhóm frontier markets hay còn gọi là pre-emerging markets (tiền mới nổi).

Theo cách phân loại của FTSE thì có 4 cấp là developed (phát triển), advanced emerging (mới nổi cao cấp), secondary emerging (mới nổi thứ cấp/cấp 2), và frontier markets. Thuật ngữ frontier (biến giới) ám chỉ thị trường các nước này có thể đầu tư được nhưng kém thanh khoản và sẽ cải thiện dần trong tương lai, tức là chuyển sang trạng thái mới nổi.

So với các nước trong khu vực thì cả Thailand, Malaysia, Indonesia và Philippines đều nằm trong nhóm secondary emerging, riêng Singapore là developed.



Chỉ số MSCI Barra Frontier Markets Index của MSCI Barra theo dõi chứng khoán tại 26 nước frontier markets trên thế giới trong đó có Việt Nam.

Thứ Hai, ngày 31 tháng 5 năm 2010

Trả Cổ Tức Theo Thị Giá

Hôm nay, tôi đọc một bài phỏng vấn về chuyện sửa một số điều khoản trong Luật Doanh nghiệp theo đó doanh nghiệp sẽ chi trả cổ tức theo thị giá. Thực ra tin này chẳng có gì quan trọng, nhưng tôi thực sự không hiểu tại sao ông TS. Nguyễn Đình Cung, đại diện Ban soạn thảo, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương khẳng định: "Tôi sẽ bảo vệ đến cùng ý tưởng trả cổ tức theo thị giá".
Những lý lẽ mà ông đưa ra nghe rất mơ hồ, và thực tế trái lại với suy nghĩ của doanh nghiệp và cổ đông. Tôi nghĩ việc một doanh nghiệp quyết định chi trả (tiền mặt) cổ tức bao nhiêu sẽ do chiến lược của công ty (mặc dù nhiều công ty không có chiến lược rõ ràng). Và mệnh giá cổ phiếu (ở Việt Nam quy định là 10.000 đồng) chỉ là đơn vị để tính. Ví dụ, doanh nghiệp kinh doanh có lãi 4.000VND/cổ phiếu. Doanh nghiệp quyết định chi trả cổ tức 25%, tức 1.000 VND/cổ phiếu, họ có thể đăng một thông báo là chi trả cổ tức bằng 10% mệnh giá.

Như vậy, quả thực có quy định chi trả cổ tức theo mệnh giá chỉ làm mọi thứ rối thêm. Vì dụ, thị giá cổ phiếu là 21.600 VND thì họ sẽ ra một thông báo là chi trả cổ tức bằng 1.000/21.600=4.629% giá ngày chốt quyền.

Nếu nói cách chia cổ tức theo mệnh giá đang "ủng hộ" nhà đầu cơ lướt sóng thì hoàn toàn không hợp lý. Giá trị cổ phiếu có bị pha loãng hay không là do chính sách của công ty. Ví dụ, như ITA cổ phiếu bị pha loãng vì công ty này muốn tăng vốn hóa nên công ty này không ngừng tặng cổ phiếu thưởng, phát hành thêm cổ phiếu. Nếu có quy định tính chi trả cổ tức theo thị giá thì cũng chẳng ảnh hưởng gì công ty này vì công ty này có trả cổ tức bằng tiền đâu.

Tương tự như vậy, lập luận nếu chia cổ tức theo thị giá sẽ giúp DN có nhiều cơ hội phát hành cổ phần để tăng vốn nghe rất mập mờ, không thuyết phục. Tôi không hiểu lý do gì mà nếu chia cổ tức theo mệnh giá thì làm cổ phiếu pha loãng, còn nếu chia theo thị giá thì không!!!

Thứ Bảy, ngày 15 tháng 5 năm 2010

Bài Học Từ Vụ SSI

Mọi chuyện bắt đầu từ bài báo của Bloomberg ngày 10/5 nói rằng Việt Nam có thể phá giá 4%, và trích dẫn thông tin trên từ SSI. Điều này sau đó đã dẫn tới một phiên giao dịch hoảng loạn. Và rất nhiều nhà đầu tư nhỏ lẻ công kích chủ tịch SSI là Nguyễn Duy Hưng vì cho rằng ông này tung tin đồn thất thiệt để trục lợi từ việc giá chứng khoán giảm. Ngày 13/5, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã bác bỏ tin đồn về việc sẽ điều chỉnh giảm tỷ giá 4% so với USD.

Tôi rút ra vài bài học:

1. Đứng ở góc độ một nhà quản lý (đb là có tầm ảnh hưởng lớn tới thị trường khi trả lời giới truyền thông thì nên tránh nói trực tiếp những số liệu cụ thể, tuyệt đối, mà chị nên nói chung chung giống như cách mà các quỹ như VinaCapital khi họp báo, thảo luận. Nếu đưa ra nhận định tốt nhất là phải có chuẩn bị cơ sở phân tích tốt vì ở Việt Nam cũng chẳng thoải mái lắm trong việc tự do ngôn luận khi mà mọi thứ đều phải kiểm duyệt. Trong trường hợp SSI này, thì thật ra đó là nhận định (vì có cụm từ "có thể sẽ") chứ không phải là số liệu, dữ liệu, hay thông tin thực tế nên nếu gọi là tin đồn thì không đúng. Tuy nhiên, theo cách giải trình sau này của Chủ tịch SSI thì lập luận phân tích có vẻ không ổn lắm.

2. Đối với nhà đầu tư, thông tin nhận định của các công ty chứng khoán, quản lý quỹ chỉ mang tính tham khảo mà thôi. Nếu nhà đầu tư tham gia thị trường thì họ phải chuẩn bị kiến thức (ở VN hiện những nhà đầu tư cá nhân chỉ tham gia lướt sóng cổ phiếu), để đầu tư, chứ không thể lúc nào cũng trông chờ vào chuyện cơ quan quản lý sẽ bảo vệ mình khi bị thua thiệt. Trước đây, tôi có coi nhiều báo cáo phân tích vĩ mô của HSBC cũng có nói về chuyện tỷ giá. Tuy nhiên, phân tích của HSBC không trùng với quyết định của ngân hàng nhà nước, có thể là vì i)những người quản lý VN (tức NHNN) chưa kịp nghĩ đến mức đó ii) họ cần thời gian để nghiên cứu, nghe ngóng xem những nước xung quanh xử lý như thế nào. Nhưng cũng để ý rằng cơ cấu lợi nhuận của một ngân hàng ngoại thì cũng khoảng 40% là kinh doanh ngoại hối và trái phiếu. Nên tại sao ta không tự hỏi ngoài chuyện PR cho dịch vụ của mình, những những bài phân tích còn có mục đích gì khác?

3. Cơ hội trong khủng hoảng. Với cái tin có thể phá giá tiền đồng 4% thì những người dễ ảnh hưởng nhất là nhà đầu tư nước ngoài, và kéo theo cả thị trường. Quả thật, cái tin này đã làm nhiều cổ phiếu giảm sàn, hoặc gần sàn. Đây là cơ hội quá tốt để mua vào, vì nhiều cổ phiếu sau khi tăng cao hồi tháng 4 đã giảm trở lại. Chẳng phải cao xa như Warren Buffett hay John Paulson mà đó cũng là nhận định của một người có kinh nghiệm trong nhóm đầu tư với tôi. Bởi vậy, kiềm chế tâm lý khi giao dịch cũng là một lời khuyên tốt.