Thứ Năm, 19 tháng 11, 2009

Dấu Hiệu Cảnh Báo Gian Lận Kế Toán

Bằng cách này hay cách khác, các công ty thường làm đẹp các báo cáo tài chính để tăng lợi nhuận, tăng doanh số bán hay giảm tỉ lệ nợ.
Dưới đây là những dấu hiệu nhận biết gian lận trong kế toán. Những dấu hiệu này cảnh báo những số liệu trong kế toán có thể phản ánh không đúng sự thật. Dùng chữ gian lận nhiều khi hơi nặng nề, nhưng ý chính là các con số trong báo cáo tài chính có thể bị thổi phồng lên.

- Ghi nhận doanh thu "mạnh" (aggressive revenue recognition). Với kỹ thuật ghi nhận aggressive sẽ dẫn đến doanh thu có thể có sớm hơn thời điểm hợp lí. Những kỹ thuật này gồm có:
+ Viết hóa đơn mà không giao hàng (bill-and-hold)
+ Sales-type leases: người cho thuê báo cáo khoản cho thuê là một khoản doanh số bán hàng, đặc biệt là khi người đi thuê coi việc giao dịch là một loại thuê hoạt động (operating lease)
+ Ghi nhận doanh thu vào thời điểm kí hợp đồng nhưng trước khi chuyển giao hàng hóa, dịch vụ.
+ Ghi nhận doanh thu trước khi hòa thành hết tất cả các diều khoản của hợp đồng
+ Sử dụng giao dịch hoán đổi swap, hoặc trao đổi hàng hóa để tạo ra các khoản doanh số bán hàng

- Dòng tiền hoạt động (operating cashflow) không phù hợp với lợi nhuận báo cáo. Nếu một công ty thông báo lợi nhuận dương mà dòng tiền hoạt động lại âm hoặc giảm, thì điều này có thể cho thấy sự bất bình thường của kế toán. Chỉ số cashflow earning index (dòng tiền hoạt động chia lợi nhuận ròng) sẽ hứu ích để nhận biết những vấn để tiềm ẩn (tỉ số luôn dưới 1 hay tỉ số giảm qua các kỳ)

- Tăng trưởng doanh thu không đồng bộ với tình hình kinh tế, của ngành, hay những công ty cùng loại và không đồng bộ với tăng trưởng của khoản phải thu (receivables). Nếu một công ty báo cáo tốc độ tăng trưởng doanh thu cao mà không phù hợp với những công ty khác trong ngành, hay nhóm công ty, điều này có thể là kết quả quản lý tốt hoạt đông kinh doanh, nhưng cũng có thể cho thấy ta cần chú ý kỹ hơn tới chất lượng của những khoản doanh thu này, Đặc biệt chú ý khi các khoản phải thu (receivables) tăng nhanh hơn so với doanh thu, hay số ngày trung bình khách hàng trả tiền (days' receivables) ngày càng tăng.

- Tăng hàng tồn kho không phù hợp với tăng trưởng doanh số bán hàng, hoặc số ngày hàng tồn kho ngày càng tăng. Điều này chỉ ra đã có vấn đề với:
+ quán lý hàng tồn kho
+ hàng tồn kho quá hạn
+ trình báo khống, sai lệch về hàng tồn kho để tăng lợi nhuận gộp và lợi nhuận ròng.

- Phân loại các loại thu nhập không phải từ hoạt động kinh danh hoặc việc làm ăn không thường xuyên thành mo65t khoản doanh thu. Một số công ty có thể chuyển một vài khoản lợi nhuận, biến chúng thành doanh thu để che lấp việc doanh thu thực tế của công ty đang giảm sút hoặc làm cho tỉ lệ tăng trưởng doanh thu tăng cao hơn.

- Trì hoãn các khoản chi phí: Những nguyên lý kế toán của một công ty có thể cho thấy những khoản chi tiêu hiện thời có thể được vốn hóa (capitalized) và trì hoãn lại những năm sau và trừ dần (amortization). Vấn đề quan trọng là nhận biết đây là một trong những thông lệ của ngành hay là công ty đang khuếch trương lợi nhuận kỳ hiện tại. Điều này thường dẫn đến tăng các loại tài sản đặc biệt, không bình thường. Vì vậy nhiên cứu kỹ các khoản thế này sẽ vạch ra hoạt động của công ty.

- Sử dụng quá nhiều thuê hoạt động (operating leases): Việc sử dụng như vậy không vi phạm luật, nhưng vài công ty có thể dùng hình thức thuê hoạt động để đạt được những chỉ số tài chính đẹp (như tỉ lệ nợ nhỏ, lợi nhuận trên tài sản cao). Nếu một công ty sử dụng những hình thức này nhiều hơn các công ty cùng ngành, thì đây có thể là một cảnh báo. Tôt nhất là điềuchỉnh các chỉ số tài chính để thấy các chỉ số sẽ thay đổi thế nào nếu các thiết bị được mua.

- Phân loại các chi phí hay khoản lỗ thành bất thường hay việc kinh doanh không thường xuyên. Nếu một công ty có thể biến các khoản thu nhập thành doanh thu, thì tương tự với các khoản chi phí. Ví vậy, nếu một công ty có các khoản chi "đặc biệt", thì tốt nhất là xem chúng là chi phí hoạt động bỉnh thường khi đánh giá.

- Các khoản thanh lí LIFO (last-in first-out): Một số công ty sử dụng phương pháp kế toán hàng nhập sau xuât trước LIFO để có thể tăng giả tao những khoản lợi nhuận bắng cách để mức câ bằng hàng tồn kho thấp vào cuối năm. Tuy nhiên, cách này làm tăng thuế. Cảnh báo có thể nhận thấy bắng cách xem xét thẩm định thuyết mình liên quan đến hàng tồn kho mà có sự giảm sút của khoản LIFO reserve.

- Các chỉ số biên gross margins hay operating margins không phù hợp với các công ty cùng loại. Các mức biên này có thể cho thấy công ty điều hành tốt hay quản lý chi phí tốt. Song, nó cũng có thể chi ra rằng đã sử dụng phương pháp kế toán để để cải thiện kết quả tài chính so với các công ty cùng loại. Sẽ là hữu ích nếu so sánh các phương pháp kế toán ở trong bản thuyết minh.

- Sử dụng nhiều năm trong khấu hao, khấu trừ dần. Phải so sánh với các công ty cùng loại xem như thế co hợp lý không.

- Sử dụng mạnh các giả định về quỹ hưu trí pension plan. Kết quả có thể làm sai lệch lợi nhuận và đòn bẩy tài chính. Đặc biệt coi chừng khác khoản giảm trừ (discount rates) (làm giảm chi phí và liability cho quỹ hưu trí) và lợi nhuận mong đợi cao trong các tài sản quỹ (sẽ làm giảm chi phí).

- Lợi nhuận quý 4 đột biến: Thường doanh số cao hay chi phí thấp trong quý cuối cùng không thể xem là tính theo mùa vụ (seasonality).

- Sử dụng biện pháp về vốn (equity) khi lập kế toán các SPEs (special purpose entities) hay variable-interest entities nằm ngoài bảng cân đối. Sử dụng các khoản đầu tư và các entities có thể dẫn đến việc không hợp nhất (nonconsolidation) đặc biệt khi việc sắp xếp không bình thường trong ngành.
- Các khoản tài chình, bảo lãnh ngoài bảng cân đối kế toán khác.

Cũng như đã nói ở trên, việc tồn tại những dấu hiệu cảnh báo trên không có nghĩa là công ty đang gian lận trong kế toán. Người phân tích sẽ phải cẩn thận khi làm thầm định due diligence công ty với nhiều cảnh báo. Nếu quá nhiều dấu hiệu như vậy, thì phải tiến hành rất thận trọng, và có thể tốt nhất là loại bỏ.