Hiển thị các bài đăng có nhãn kế toán. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn kế toán. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 26 tháng 12, 2009

Tài Sản

Tài sản là gì?

Bất cứ vật gì có giá trị kinh tế mà cá nhân hay doanh nghiệp sở hữu, đặc biệt là những thứ có thể chuyển thành tiền mặt. Ví dụ của tài sản: tiền mặt, chứng khoán, các khoản phải thu của khách hàng, hàng tồn kho, thiết bị văn phòng, bất động sản, hay những vật sở hữu khác.
Trên bảng cân đối kế toán, tài sản bằng tổng của nợ phải trả (liabilities), cổ phiếu phổ thông, cổ phiếu ưu đãi, và lợi nhuận giữ lại (hay còn gọi lợi nhuận sau thuế chưa phân phối).

Dưới phương diện kế toán, tài sản được chia thành những mục sau:
Tài sản ngắn hạn (curent assets) bao gồm tiền mặt và những tài sản có tính thanh khoản cao; tài sản dài hạn (bất động sản, nhà máy, trang thiết bị); chi phí trả trước (như chi phí cho những chi tiêu tương lai như phí bảo hiểm, phí thuê mướn, hay lãi suất); và tài sản vô hình (thương hiệu, bằng sáng chế, bản quyền và lợi thế thương mại - goodwill).

Việc phân chia mang tính tương đối vì những chuẩn mực kế toán khác nhau sẽ có chút khác biệt. Kế toán Việt Nam chia làm 2 loại chính: tài sản ngắn hạn, và tài sản dài hạn. Ví dụ:

Thứ Hai, 21 tháng 12, 2009

Động Lực Thổi Phồng Báo Cáo Tài Chính

Những thông tin trên báo cáo tài chính được dùng trong những trường hợp khác nhau mà có thể tạo động lực để những người lập báo cáo có thể cơ hội khi báo cáo kết quả. Đặc biệt, những người làm báo cáo có thể chi phối thị trường vốn hay các phương thức đo lường hiệu quả theo những bản hợp đồng.



Image credited to lusi

Thị trường vốn

Khi những thông tin tài chính được báo cáo lên các thị trường vốn, giá chứng khoán sẽ dịch chuyển. Điều này rõ ràng tạo một động lực cho cấp quản lý làm các báo cáo tài chính mà bằng hoặc vượt xa những dự báo hiện tại, và quản lý các dự báo tiếp tục đi lên.

Số lượng các công ty báo cáo kết quả tốt vượt mức dự báo của sell-side analyst (phân tích làm việc ở bên bán chứng khoán) nhiều hơn số công ty báo cáo kết quả thấp hơn.
Mục tiêu mà công ty đang cố gắng thực hiện là một benchmark động: dự đoán chung của giới sell-side analyst. Bằng cách sử dụng những giao thiệp mang tính chiến lược với cộng đồng đầu tư, cấp lãnh đạo có thể dời mốc benchmark này. Tương tự, những con số lợi nhuận thông báo là một mục tiêu động tùy nghi theo cấp lãnh đạo. Việc tập trung báo vào báo cáo lợi nhuận để mà bằng với những dự báo chung thường được gọi là cuộc chơi lợi nhuận. Thực tế, "cuộc chơi" này có liên hệ tới nhưng áp lực từ thị trường vốn tới công ty. Những lợi nhuận ở đầu năm tài chính mà công ty thông báo thường thấp hơn dự báo đầu năm, nhưng về cuối năm thì lại lớn hơn. Như vậy những dự báo đã chuyển từ lạc quan (ban đầu) trở thành bi quan (sau này) so với lợi nhuận thông báo. Và sự dịch chuyển này tạo ra một sự ngạc nhiên về lợi nhuận báo cáo.

Những năm gần đây thì ngày càng phổ biến, đặc biệt là những công ty phát hành cổ phiếu hoặc người nội bộ trong công ty, tính trung bình, đang bán ra cổ phần.

Hợp đồng


Những thông tin kế toán được sự dụng trong nhiều hợp đồng gồm cả hợp đổng với cấp lãnh đạo và những hợp đồng liên quan đến chứng khoán tài chính. Cả hai loại hợp đồng có thể tạo ra động lực để cấp lãnh đạo sự dụng các kỹ thuật về kế toán với mục đích trục lợi.

Ví dụ, thù lao cho cấp lãnh đạo điển hình là một công thức hàm số liên quan đến lợi nhuận công ty, cũng như giá cổ phiếu , nói chung đều liên quan lợi nhuận doanh nghiệp dù đó là một con số cụ thể hay con số tương đối so với benchmark.

Những thông tin trên báo cáo tài chính thường được sử dụng như là một phần cơ bản để định ra mức thù lao cho câp lãnh đạo. Những hợp đồng như vậy tạo ra những động cơ trực tiếp để cấp lãnh đạo trục lợi khi tùy chỉnh các thông tin kế toán.

Những hợp đồng khác mà có sử dụng thông tin kế toán như là hợp động nợ: Những công ty hiện còn mang nợ sẽ gặp nhiều hạn chế bởi debt covenants (một loại điều khoản thỏa thuận giữa bên vay và bên cho vay) và năng lực cấp lãnh đạo có thể được tính theo những chi phí lãi. Và cấp lãnh đạo có thể dùng biện pháp kế toán để làm lợi cho mình.

Cơ chế kỷ luật cấp lãnh đạo

Có nhiều cớ chế để giảm bớt những lạm dụng quyền hạn để thổi phồng các kết quả kinh doanh. Một vài ví dụ về những cơ chế đảm bảo việc báo cáo chân thật:

- Kiểm toán ngoài: Mọi công ty đại chúng đều buộc phải kiểm toán các báo cáo tài chính bởi một kiểm toán có đăng kí. Với quy trình này, các báo cáo tài chính sẽ kiểm duyệt độc lập. Đặc biệt, nhiệm vụ của những kiểm toán ngoài doanh nghiệp là đưa ra nhận xét về tính trung thực của báo cáo tài chính tổng hợp, ý kiến về đánh giá của cấp lãnh đão về kiểm soát nội bộ, và ý kiến về những kiểm soát nội bộ về báo cáo tài chính.

- Kiểm toán nội bộ, ủy ban kiểm toán, và ban giám đốc. Ban giám đốc cùng các ủy ban và sự giám sát của kiểm toán nội bộ có năng lực để thực hiện chức năng kiểm tra cấp lãnh đạo.

- Giấy phép, chứng chỉ về quản lý. Như những quy định về Chứng chỉ Kế Toán Trưởng...

- Luật sư. Những vụ kiện khởi tố tập thể có có thể là cách hiệu quả để làm giảm bớt động lực để mưu đồ riêng với hệ thống báo cáo tài chính.

- Những công cụ điều tiết. Những biện pháp điều phối, gồm cả mức truy tố hình sự cho những hành động sai trái có thể là cho những cấp lãnh đạo phải căn cơ suy nghĩ về những hành động của mình.

- Những theo dõi của thì trường. Phóng viên tài chính, nhà đầu tư tổ chức "activist" (tức những cổ đông có quyền tác động lên cấp lãnh đạo bằng tỉ lệ cổ phiếu của mình), giới phân tích...luôn theo dõi sát những báo cáo tài chính để phát hiện những hành vi sai phạm.

Thứ Bảy, 28 tháng 11, 2009

Mark-to-market Accounting

Mark-to-market Accounting (kế toán theo giá trị thị trường) không phải là một đề tài mới, thực tế nó là vấn đề tranh cãi từ lâu, đặc biệt là sau vụ gian lận của Enron, và tác động của nó trong khủng hoảng tài chính vừa qua. Tôi tổng hợp lại một vài ý kiến.

Mark-to-market (kế toán theo giá trị thị trường) hay fair value accounting (kế toán theo giá hợp lý) là chuẩn mực kế toán mà ghi nhận giá trị của các công cụ tài chính theo giá hợp lí trên thị trường hiện tại, hoặc giá của các công cụ tương tự.


Ở Mỹ


Enron

Enron phá sản ở Mỹ chưa phải lớn nhất (sau vụ Worldcom), song lại chứa đựng rất nhiều thông tin về sự gian lận kế toán khi sử dụng phương pháp tính theo giá trị hợp lý. Enron sử dụng phương pháp mark-to-market để khai báo doanh thu. Enron sử dụng cho hàng tồn kho, ngoài ra còn có các giao dịch forwards, swaps, options, các hợp đồng vận chuyển năng lượng và các loại hợp đồng khác. Các hợp đồng dài hạn do được điều chỉnh theo giá hợp lý, được tính bằng cách ước lượng giá trị hiện tại của dòng tiền tương lai, nên đã thổi phồng con số lợi nhuận. Đặc biệt, Enron dùng kế toán mark-to-market cho các công ty con chuyên biệt, được gọi là price-risk-management. Enron ghi nhận lợi nhuận ngay khi ký một hợp đồng dài hạn với một công ty công nghệ, khi hợp đồng chấm dứt trước thời hạn (thật ra không có công nghệ nào) nhưng Enron vẫn tiếp tục ghi nhận lợi nhuận mặc dù lỗ.

FAS 157

Tiêu chuẩn FAS 157 bắt đầu có hiệu lực ngày 15/11/2007, theo đó các tài sản của các financial institutions sẽ chia làm 3 level:

* Level 1: Tài sản có giá thị trường
* Level 2: Tài sản không có giá thị trường, chúng được định giá theo một mô hình. Mô hình này được tính dựa theo giá những loại chứng khoán tương tự, mức lãi suất ...
* Level 3: loại này không có giá thị trường, cũng chẳng có mô hình để tính toán, nên người ta sẽ đưa ra giả định khi lập báo cáo tài chính.

Như vậy, ai cũng dễ dàng thấy sơ hở của loại tài sản level 3 này. Giả định thế nào thì gọi là hợp lí. Vấn đề của kế toán mark-to-market ở đây là luôn phải ghi nhận theo giá trị thị trường. Tuy nhiên , khi kinh tế gặp khủng hoảng, nhiều loại tài sản, hay công cụ tài chính bỗng chốc mất tính thanh khoản. Giá thị trường thị tụt dốc không kìm hãm được. Nếu các tổ chức tài chính có tài sản lớn đặc biệt các loại chứng khoán tổng hợp sử dụng phương pháp mark-to-market sẽ ghi nhận những khoản lỗ lớn khi mà các nhà đầu tư hoảng sợ, cả thị trường chỉ bán, và thậm chí nhưng giao dịch. Bank for International Settlements đề nghị kế toán theo giá trị của các chứng khoán thế chấp dưới chuẩn được xếp hạng AAA (sử dụng ABX index). Điều này làm cho các khoản lỗ trầm trọng hơn.

Ngày 9/4/2009, FASB đã cập nhật bản FAS 157: sẽ lới lỏng không quy định mark-to-market khi thị trường không ổn định. Nhóm đầu tiên sẽ áp dụng từ 15/3, còn tất cả sẽ áp dụng từ 15/6.

Ở Việt Nam


Các quy định về kế toán theo giá thị trường rất chung chung, ngay cả trong Thông tư số 210/2009/TT-BTC (ngày 6/11/2009) hướng dẫn áp dụng Chuẩn mực kế toán quốc tế về công cụ tài chính tại Việt Nam. Xin trích vài ý:

Điều 3, khoản 6: Tài sản tài chính hoặc nợ phải trả tài chính được ghi nhận theo giá trị hợp lý thông qua Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh: Là một tài sản tài chính hoặc một khoản nợ phải trả tài chính thỏa mãn một trong các điều kiện sau:
a) Tài sản tài chính hoặc nợ phải trả tài chính được phân loại vào nhóm nắm giữ để kinh doanh. Tài sản tài chính hoặc nợ phải trả tài chính được phân loại vào nhóm chứng khoán nắm giữ để kinh doanh, nếu:
(i) Được mua hoặc tạo ra chủ yếu cho mục đích bán lại/ mua lại trong thời gian ngắn;
(ii) Có bằng chứng về việc kinh doanh công cụ đó nhằm mục đích thu lợi ngắn hạn; hoặc
(iii) Công cụ tài chính phái sinh (ngoại trừ các công cụ tài chính phái sinh được xác định là một hợp đồng bảo lãnh tài chính hoặc một công cụ phòng ngừa rủi ro hiệu quả).
b) Tại thời điểm ghi nhận ban đầu, đơn vị xếp tài sản tài chính hoặc nợ phải trả tài chính vào nhóm phản ánh theo giá trị hợp lý thông qua Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.

Khoản 14: Giá trị hợp lý: Là giá trị mà một tài sản có thể được trao đổi, hoặc một khoản nợ phải trả có thể được thanh toán giữa các bên có đầy đủ hiểu biết, mong muốn giao dịch, trong một giao dịch trao đổi ngang giá.

Điều 17. Trình bày các loại tài sản tài chính và nợ phải trả tài chính

Giá trị ghi sổ của từng loại tài sản tài chính và nợ phải trả tài chính sau được trình bày trong bảng cân đối kế toán hoặc trong thuyết minh báo cáo tài chính:

1- Tài sản tài chính được ghi nhận theo giá trị hợp lý thông qua Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, trong đó tách riêng tài sản tài chính được đơn vị xếp vào nhóm này tại thời điểm ghi nhận ban đầu và tài sản tài chính nắm giữ để kinh doanh;
2 - Các khoản đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn;
3 - Các khoản cho vay và phải thu;
4 - Tài sản tài chính sẵn sàng để bán;
5 - Nợ phải trả tài chính được ghi nhận theo giá trị hợp lý thông qua Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, trong đó tách riêng nợ phải trả tài chính được đơn vị xếp vào nhóm này tại thời điểm ghi nhận ban đầu và nợ phải trả tài chính nắm giữ để kinh doanh;
6 - Nợ phải trả tài chính được xác định theo giá trị phân bổ.

Điều 18. Thuyết minh đối với tài sản tài chính và nợ phải trả tài chính được ghi nhận theo giá trị hợp lý thông qua Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.

1 - Nếu đơn vị phân loại một khoản cho vay hoặc phải thu (hoặc nhóm các khoản cho vay hoặc phải thu) vào nhóm được ghi nhận theo giá trị hợp lý thông qua Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, đơn vị sẽ phải thuyết minh về:
a) Mức độ rủi ro tín dụng tối đa của khoản cho vay hoặc phải thu (hoặc nhóm các khoản cho vay hoặc phải thu) tại ngày báo cáo;
b) Mức độ giảm thiểu rủi ro tín dụng của các công cụ phái sinh tín dụng có liên quan hoặc các công cụ tương tự;
c) Giá trị hợp lý của khoản cho vay hoặc phải thu (hoặc nhóm các khoản cho vay hoặc phải thu) cuối kỳ, những thay đổi về giá trị hợp lý trong kỳ do thay đổi về rủi ro tín dụng của tài sản tài chính;
d) Giá trị hợp lý cuối kỳ và thay đổi về giá trị hợp lý trong kỳ của các công cụ tài chính phái sinh tín dụng có liên quan hoặc các công cụ tương tự kể từ khi khoản cho vay hoặc phải thu được phân loại vào nhóm này.

2 - Đơn vị phải thuyết minh các thông tin sau đối với nợ phải trả tài chính được ghi nhận theo giá trị hợp lý thông qua Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh:
a) Giá trị hợp lý cuối kỳ, những thay đổi về giá trị hợp lý trong kỳ do thay đổi về rủi ro tín dụng của các khoản nợ phải trả tài chính.
b) Chêch lệch giữa giá trị ghi sổ của nợ phải trả tài chính và giá trị đơn vị phải thanh toán khi đáo hạn theo hợp đồng cho chủ sở hữu của các khoản nợ đó.

Điều 28. Thuyết minh về giá trị hợp lý

Đơn vị phải thuyết minh các thông tin về giá trị hợp lý như sau:
1- Giá trị hợp lý của những tài sản và nợ phải trả tài chính để có thể so sánh giá trị hợp lý và giá trị ghi sổ.
2 - Các phương pháp xác định giá trị hợp lý của từng loại tài sản hay nợ phải trả tài chính.

Như vậy, là việc áp dụng giá trị hợp lí sẽ gồm cả tài sản và nợ tài chính (so với trước đây, giới kiểm toán có thảo luận là chuẩn mực kế toán Việt Nam chỉ có tài sản mới định giá theo giá thị trường). Tuy nhiên, ở Việt Nam chưa phân định rõ cách tính giá trị của các công cụ tài chính, và chỉ giới thiệu các phương pháp thẩm định giá. Có lẽ ở Việt Nam chưa có loại Level 3 asset như trong trong FAS 157, nên các công cụ tài chính ở Việt Nam sẽ giống như Level 1, Level 2.
Cũng không thấy quy định về tính giá trị hợp lý của các illiquid assets, trong khi ở Việt Nam hay biến động về lãi suất.

Bạn nào am hiểu lịnh vực kế toán, kiểm toán xin cho ý kiến với.

Thứ Bảy, 21 tháng 11, 2009

Gian Lận Kế Toán 2009 Tăng

Theo cuộc khảo sát của hãng kiểm toán PricewaterhouseCoopers PWC thì các vụ gian lận kế toán của các công ty toàn cầu.

Cuộc khảo sát gồm 3,000 lãnh đạo cấp cao ở 54 quốc gia cho thấy các vụ gian lận tăng lên 38%, cao hơn mức 27% trong cuộc khảo sát của hãng này năm 2007.

Hai loại gian lận phổ biến nhất là định giá sai tài sản (67%), bao gồm việc mất trộm tiền mặt, hàng tồn kho, và hối lộ, tham nhũng (27%).

Theo tôi thì chắc chắn tỉ lệ các công ty làm ăn sa sút hơn vì những tác động của khủng hoảng tài chính trực tiếp hay gián tiếp. Các công ty chắc hẳn đã phải gặp khó khăn hơn trong việc tìm vốn. Rất nhiều công ty đã chọn giải pháp cắt giảm nhân lực để tồn tại. Do đó các công ty có nhiều áp lực hơn để làm giả các báo cáo tài chính.

Tải bản khảo sát này: PWC Global Economic Crime Survey 2009

Thứ Năm, 19 tháng 11, 2009

Dấu Hiệu Cảnh Báo Gian Lận Kế Toán

Bằng cách này hay cách khác, các công ty thường làm đẹp các báo cáo tài chính để tăng lợi nhuận, tăng doanh số bán hay giảm tỉ lệ nợ.
Dưới đây là những dấu hiệu nhận biết gian lận trong kế toán. Những dấu hiệu này cảnh báo những số liệu trong kế toán có thể phản ánh không đúng sự thật. Dùng chữ gian lận nhiều khi hơi nặng nề, nhưng ý chính là các con số trong báo cáo tài chính có thể bị thổi phồng lên.

- Ghi nhận doanh thu "mạnh" (aggressive revenue recognition). Với kỹ thuật ghi nhận aggressive sẽ dẫn đến doanh thu có thể có sớm hơn thời điểm hợp lí. Những kỹ thuật này gồm có:
+ Viết hóa đơn mà không giao hàng (bill-and-hold)
+ Sales-type leases: người cho thuê báo cáo khoản cho thuê là một khoản doanh số bán hàng, đặc biệt là khi người đi thuê coi việc giao dịch là một loại thuê hoạt động (operating lease)
+ Ghi nhận doanh thu vào thời điểm kí hợp đồng nhưng trước khi chuyển giao hàng hóa, dịch vụ.
+ Ghi nhận doanh thu trước khi hòa thành hết tất cả các diều khoản của hợp đồng
+ Sử dụng giao dịch hoán đổi swap, hoặc trao đổi hàng hóa để tạo ra các khoản doanh số bán hàng

- Dòng tiền hoạt động (operating cashflow) không phù hợp với lợi nhuận báo cáo. Nếu một công ty thông báo lợi nhuận dương mà dòng tiền hoạt động lại âm hoặc giảm, thì điều này có thể cho thấy sự bất bình thường của kế toán. Chỉ số cashflow earning index (dòng tiền hoạt động chia lợi nhuận ròng) sẽ hứu ích để nhận biết những vấn để tiềm ẩn (tỉ số luôn dưới 1 hay tỉ số giảm qua các kỳ)

- Tăng trưởng doanh thu không đồng bộ với tình hình kinh tế, của ngành, hay những công ty cùng loại và không đồng bộ với tăng trưởng của khoản phải thu (receivables). Nếu một công ty báo cáo tốc độ tăng trưởng doanh thu cao mà không phù hợp với những công ty khác trong ngành, hay nhóm công ty, điều này có thể là kết quả quản lý tốt hoạt đông kinh doanh, nhưng cũng có thể cho thấy ta cần chú ý kỹ hơn tới chất lượng của những khoản doanh thu này, Đặc biệt chú ý khi các khoản phải thu (receivables) tăng nhanh hơn so với doanh thu, hay số ngày trung bình khách hàng trả tiền (days' receivables) ngày càng tăng.

- Tăng hàng tồn kho không phù hợp với tăng trưởng doanh số bán hàng, hoặc số ngày hàng tồn kho ngày càng tăng. Điều này chỉ ra đã có vấn đề với:
+ quán lý hàng tồn kho
+ hàng tồn kho quá hạn
+ trình báo khống, sai lệch về hàng tồn kho để tăng lợi nhuận gộp và lợi nhuận ròng.

- Phân loại các loại thu nhập không phải từ hoạt động kinh danh hoặc việc làm ăn không thường xuyên thành mo65t khoản doanh thu. Một số công ty có thể chuyển một vài khoản lợi nhuận, biến chúng thành doanh thu để che lấp việc doanh thu thực tế của công ty đang giảm sút hoặc làm cho tỉ lệ tăng trưởng doanh thu tăng cao hơn.

- Trì hoãn các khoản chi phí: Những nguyên lý kế toán của một công ty có thể cho thấy những khoản chi tiêu hiện thời có thể được vốn hóa (capitalized) và trì hoãn lại những năm sau và trừ dần (amortization). Vấn đề quan trọng là nhận biết đây là một trong những thông lệ của ngành hay là công ty đang khuếch trương lợi nhuận kỳ hiện tại. Điều này thường dẫn đến tăng các loại tài sản đặc biệt, không bình thường. Vì vậy nhiên cứu kỹ các khoản thế này sẽ vạch ra hoạt động của công ty.

- Sử dụng quá nhiều thuê hoạt động (operating leases): Việc sử dụng như vậy không vi phạm luật, nhưng vài công ty có thể dùng hình thức thuê hoạt động để đạt được những chỉ số tài chính đẹp (như tỉ lệ nợ nhỏ, lợi nhuận trên tài sản cao). Nếu một công ty sử dụng những hình thức này nhiều hơn các công ty cùng ngành, thì đây có thể là một cảnh báo. Tôt nhất là điềuchỉnh các chỉ số tài chính để thấy các chỉ số sẽ thay đổi thế nào nếu các thiết bị được mua.

- Phân loại các chi phí hay khoản lỗ thành bất thường hay việc kinh doanh không thường xuyên. Nếu một công ty có thể biến các khoản thu nhập thành doanh thu, thì tương tự với các khoản chi phí. Ví vậy, nếu một công ty có các khoản chi "đặc biệt", thì tốt nhất là xem chúng là chi phí hoạt động bỉnh thường khi đánh giá.

- Các khoản thanh lí LIFO (last-in first-out): Một số công ty sử dụng phương pháp kế toán hàng nhập sau xuât trước LIFO để có thể tăng giả tao những khoản lợi nhuận bắng cách để mức câ bằng hàng tồn kho thấp vào cuối năm. Tuy nhiên, cách này làm tăng thuế. Cảnh báo có thể nhận thấy bắng cách xem xét thẩm định thuyết mình liên quan đến hàng tồn kho mà có sự giảm sút của khoản LIFO reserve.

- Các chỉ số biên gross margins hay operating margins không phù hợp với các công ty cùng loại. Các mức biên này có thể cho thấy công ty điều hành tốt hay quản lý chi phí tốt. Song, nó cũng có thể chi ra rằng đã sử dụng phương pháp kế toán để để cải thiện kết quả tài chính so với các công ty cùng loại. Sẽ là hữu ích nếu so sánh các phương pháp kế toán ở trong bản thuyết minh.

- Sử dụng nhiều năm trong khấu hao, khấu trừ dần. Phải so sánh với các công ty cùng loại xem như thế co hợp lý không.

- Sử dụng mạnh các giả định về quỹ hưu trí pension plan. Kết quả có thể làm sai lệch lợi nhuận và đòn bẩy tài chính. Đặc biệt coi chừng khác khoản giảm trừ (discount rates) (làm giảm chi phí và liability cho quỹ hưu trí) và lợi nhuận mong đợi cao trong các tài sản quỹ (sẽ làm giảm chi phí).

- Lợi nhuận quý 4 đột biến: Thường doanh số cao hay chi phí thấp trong quý cuối cùng không thể xem là tính theo mùa vụ (seasonality).

- Sử dụng biện pháp về vốn (equity) khi lập kế toán các SPEs (special purpose entities) hay variable-interest entities nằm ngoài bảng cân đối. Sử dụng các khoản đầu tư và các entities có thể dẫn đến việc không hợp nhất (nonconsolidation) đặc biệt khi việc sắp xếp không bình thường trong ngành.
- Các khoản tài chình, bảo lãnh ngoài bảng cân đối kế toán khác.

Cũng như đã nói ở trên, việc tồn tại những dấu hiệu cảnh báo trên không có nghĩa là công ty đang gian lận trong kế toán. Người phân tích sẽ phải cẩn thận khi làm thầm định due diligence công ty với nhiều cảnh báo. Nếu quá nhiều dấu hiệu như vậy, thì phải tiến hành rất thận trọng, và có thể tốt nhất là loại bỏ.