Hiển thị các bài đăng có nhãn kiến thức tài chính. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn kiến thức tài chính. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 26 tháng 12, 2009

Tài Sản

Tài sản là gì?

Bất cứ vật gì có giá trị kinh tế mà cá nhân hay doanh nghiệp sở hữu, đặc biệt là những thứ có thể chuyển thành tiền mặt. Ví dụ của tài sản: tiền mặt, chứng khoán, các khoản phải thu của khách hàng, hàng tồn kho, thiết bị văn phòng, bất động sản, hay những vật sở hữu khác.
Trên bảng cân đối kế toán, tài sản bằng tổng của nợ phải trả (liabilities), cổ phiếu phổ thông, cổ phiếu ưu đãi, và lợi nhuận giữ lại (hay còn gọi lợi nhuận sau thuế chưa phân phối).

Dưới phương diện kế toán, tài sản được chia thành những mục sau:
Tài sản ngắn hạn (curent assets) bao gồm tiền mặt và những tài sản có tính thanh khoản cao; tài sản dài hạn (bất động sản, nhà máy, trang thiết bị); chi phí trả trước (như chi phí cho những chi tiêu tương lai như phí bảo hiểm, phí thuê mướn, hay lãi suất); và tài sản vô hình (thương hiệu, bằng sáng chế, bản quyền và lợi thế thương mại - goodwill).

Việc phân chia mang tính tương đối vì những chuẩn mực kế toán khác nhau sẽ có chút khác biệt. Kế toán Việt Nam chia làm 2 loại chính: tài sản ngắn hạn, và tài sản dài hạn. Ví dụ:

Thứ Năm, 24 tháng 12, 2009

Tăng Trưởng Tín Dụng (Credit Growth)

Tăng trưởng tín dụng là gì?

Tăng trưởng tín dụng là sự tăng lên của các khoản cho vay cho khối tư nhân, cá nhân, tập thể hoặc tổ chức công cộng.

Công thức tính

Khối lượng cho vay kỳ N
_________________________________ - 1
Khối lượng cho vay kỳ N-1

Khối lượng cho vay (tín dụng) có liên hệ mật thiết với M2 money supply. Mức tăng của credit growth và money supply cũng xấp xỉ nhau.

Tăng trưởng tín dụng được Ngân hàng trung ương thống kê; tuy nhiên, ở Việt Nam tiếp cận những thông tin như vậy hơi khó, hoặc không kịp thời, không đều đặn. Những dữ liệu lịch sử dễ tìm thấy ở trang web của Asian Development Bank và International Monetary Fund.

Vietnam's credit growth and M2 money supply

Thứ Tư, 23 tháng 12, 2009

Window Dressing

Window Dressing (trang trí rèm cửa sổ) là chiến thuật được các nhà quản lý quỹ mutual fund và quản lý danh mục đầu tư sử dụng vào thời điểm cuối năm, hoặc cuối quý để cải thiện bề ngoài của hiệu quả vận hành quỹ/danh mục trước khi trình bày cho khách hàng hoặc cổ đông. Để mà "thay rèm", quản lý quỹ sẽ bán cổ phiếu có mức lỗ lớn và mua vào những cổ phiếu đanh tăng giá cao khi gần cuối quý. Những cổ phiếu này sẽ được báo cáo là một phần tỷ lệ nắm giữ của của quỹ.

Rõ ràng đây là một kỹ thuật mang tính lừa dối để che mắt cổ đông hay khách hàng, làm cho họ tin rằng quỹ đang nắm những cổ phiếu có hiệu quả đầu tư tốt khi các báo cáo hiệu quả vận hành quỹ và danh sách các tài sản nắm giữ được gởi cho khách hàng.

Một biến thể khác là việc các quỹ mutual fund mua các cổ phiếu không đúng với tiêu chí của quỹ, nhưng quản lý quỹ cũng dùng biện pháp tương tự như trên để che mắt nhà đầu tư.

Window dressing cũng có một trường hợp khác là khi một doanh nghiệp dùng những kỹ thuật tiểu xảo kế toán để làm cho bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (báo cáo lãi lỗ) trở nên tốt đẹp khả quan hơn thực tế.

Việc window dessing nói chung chỉ có tác động tạm thời trước mắt, nhưng về dài hạn thì không thể dấu mãi được (nếu không có biến chuyển).

Thứ Bảy, 12 tháng 12, 2009

Quy Trình Xếp Hạng Tín Nhiệm

Dựa theo Corporate Ratings Criteria 2008 của Standard and Poor's:

Gặp ban lãnh đạo doanh nghiệp

Mục đích để xem xét chi tiết những kế hoạch hoạt động kinh doanh và tài chính, những chính sách điều hành, và những nhân tố về tín dụng khác mà có tác động tới việc đánh giá xếp hạng.

Trình bày: Những người tham gia trình bày gồm CFO (cơ bản), CEO (trong những vẫn đề mang tính chiến lược), các executive về hoạt động kinh doanh (về các mảng kinh doanh chi tiết), và cố vấn ngoài (nếu thấy hữu ích).

Lịch trình:
Tổ chức họp lãnh đạo phải lên kế hoạch trước vài tuần trước khi analyst tiến hành đánh giá và có sự tham gia đầy đủ cùa các thành phần.

Tham quan cơ sở vật chất
Tham quan những cơ vật chất chính, trong thời hạn cho phép.

Họp

Chuẩn bị: công ty có thể yều cầu analyst hướng dẫn về tiêu chí đánh giá, những bình luận về ngành, hay những bài viết về các công ty cùng loại.
Công ty nộp các tài liệu cơ bản trước khi họp:
- báo cáo tài chính thường niên đã kiểm toán trong 5 năm;
- những báo cáo tài chính những kỳ ngần nhất;
- bản mô tả tường thuật hoạt động kinh doanh và sản phẩm;
- nếu có, các bản sao đăng kí, hay biên bản ghi nhớ,...
- những thông tin về ngành
- bản giới thiệu của lãnh đạo (không bắt buộc)

Tiến hành họp:
Thảo luận về các vấn đề
- môi trường kinh doanh của ngành và triển vọng;
- tổng quan về những phân khúc kinh doanh chính, bao gồm số liệu thống kê về tình hình hoạt động, so sánh với đối thủ cạnh tranh và những tiêu chuẩn ngành;
- chính sách tài chính và những mục tiêu năng lực tài chính (financial performance goals)
- nghiệp vụ kế toán riêng biệt
- việc trù hoạch, bao gồm những báo cáo lưu chuyển tiền tệ và bảng cân đối kế toán cũng với những dự tính về thị trường hữu quan và hoạt động kinh doanh.
- kế hoạch chi tiêu nguồn vốn; và
- những phương án tài chính dự phòng và kế hoạch để đối phó với những tình huống bất ngờ (dùng để chỉ ra những kế hoạch của ban lãnh đạo, cách ban lãnh đạo đánh giá những thách thức của công ty, các chiến thuật tài chính về việc dựa vào nguồn dòng tiền nội bộ hay từ các quỹ bên ngoài).

Ủy ban xếp hạng
Một ủy bạn luôn được triệu tập cho một xếp hạng mới, gồm 5 - 7 thành viên và một chủ tọa. Analyst chính sẽ soạn thảo một bản trình bày gồm:
- phân tích tình hình kinh doanh của công ty và môi trường hoạt động
- đánh giá ban lạnh đạo chiến lược và tài chính
- những khía cạnh về kế toán, và
- phân tích tài chính

Công ty sẽ được thông báo về mức xếp hạng trước khi được công bố. Tín dụng doanh nghiệp gồm 2 mục chính là rủi ro kinh doanh(business risk) và rủi ro tài chính (financial risk)
+ Rủi ro kinh doanh gồm:
- rủi ro về quốc gia
- những nhân tố của ngành
- vị trí cạnh tranh
- so sánh khả năng thu lợi nhuận và so với nhóm công ty cùng ngành
+ Rủi ro tài chính
- chính sách quản trị, chấp nhận rủi ro, chính sách tài chính
- kế toán
- nguồn dòng tiền đủ (Cash flow adequacy)
- Cấu trúc vốn/ bảo vệ tài sản
- Nhân tố về thanh khoản/ngắn hạn



Những phản đối, kháng nghị sẽ được tiến hành nhanh (trong khoảng 1-2 ngày).
Sau đó, mức xếp hạng tín nhiệm sẽ được công bố trên phương tiện thông tin đại chúng.

Giám sát

Xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp được công bố sẽ được theo dõi trong vòng ít nhất một năm. Để tiếp tục theo dõi, analyst chính vẫn nhận thông tin hàng quý, hàng năm. Nếu có biến đổi nhiều hơn mong đợi hoặc có giao dịch tài chính quan trọng phát sinh có thể họp để cập nhật.

Thay đổi mức xếp hạng

Trong quá trình giám sát, công ty có thể rơi vào danh sách CreditWatch listing và cần xem xét lại. Ủy bạn sẽ tiến hành phân tích lại, đưa ra quyết định và thông báo cho công ty.

Thứ Bảy, 4 tháng 7, 2009

Bull Trap - Bear Trap

Bull Trap

Một dấu hiệu giả cho thấy cổ phiếu (hoặc một loại chứng khoán, chỉ số index) đang đổi chiều và đi lên, nhưng thực tế cổ phiếu tiếp tục đi xuống sau khi các dấu hiệu này chấm dứt. Đây được coi là một cái bẫy bởi vì người ta thấy những dấu hiệu đi lên này sẽ mua cổ phiếu hy vọng kiếm lời từ việc cổ phiếu đi lên, nhưng họ bị "mắc bẫy" với khoản đầu tư của mình khi nhận ra giá vẫn đi xuống.
Tạm dịch là "bẫy lên", "bẫy tăng giá" hay "bẫy phục hồi".

Nhận biết bull trap (chỉ mang tính tham khảo)

1. Thị trường thường di chuyển theo những xu hướng và phản ánh suy nghĩ của nhóm nhà nhà đầu tư. Thị trường không đảo chiều trong ngày một mà những yếu tố cơ bản cần thời gian và lý do để thay đổi. Nên sẽ có một vài bước tiến trước khi đảo chiều

2. Việc điều chỉnh được thấy trước khi thị trường dịch chuyển quá mạnh. Khi đó nhà đầu tư chốt lời hoặc cắt lỗ. Và việc điều chỉnh này có thể hình thành một bull trap (hoặc bear trap)
Ví dụ: khi nhà đầu tư cơ bản tận dụng giá rẻ để mua thêm cổ phiếu, có thể sẽ tạo ra một sóng nhỏ đi lên, nhưng thị trường có thể tiếp tục lại đi xuống.

3. Trong khủng hoảng, một số tin tức tốt vẫn có thể xuất hiện. Tuy nhiên những vấn đề về khủng hoảng không thể giải quyết trong ngày một nên những tin tức tốt kia có thể tạo ra những cái bẫy.

Bear Trap

Trái ngược với bull trap là bear trap (tạm dịch là bẫy xuống, bẫy giảm giá). Bear trap là tình hình mà mà thị trường vẫn tiếp tục chiều đi lên mà những nhà đầu tư thấy một dấu hiệu đi xuống và nghĩ rằng thị trường đang đi xuống. Nhà đầu tư sẽ bán khống để hy vọng kiếm lời nhưng cuối cùng phải mua với giá cao và chấp nhận lỗ.

Ở Việt Nam không (hoặc chưa) cho bán khống nên bear trap không có ý nghĩa lắm.