Hiển thị các bài đăng có nhãn tài chính doanh nghiệp. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tài chính doanh nghiệp. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 31 tháng 5, 2010

Trả Cổ Tức Theo Thị Giá

Hôm nay, tôi đọc một bài phỏng vấn về chuyện sửa một số điều khoản trong Luật Doanh nghiệp theo đó doanh nghiệp sẽ chi trả cổ tức theo thị giá. Thực ra tin này chẳng có gì quan trọng, nhưng tôi thực sự không hiểu tại sao ông TS. Nguyễn Đình Cung, đại diện Ban soạn thảo, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương khẳng định: "Tôi sẽ bảo vệ đến cùng ý tưởng trả cổ tức theo thị giá".
Những lý lẽ mà ông đưa ra nghe rất mơ hồ, và thực tế trái lại với suy nghĩ của doanh nghiệp và cổ đông. Tôi nghĩ việc một doanh nghiệp quyết định chi trả (tiền mặt) cổ tức bao nhiêu sẽ do chiến lược của công ty (mặc dù nhiều công ty không có chiến lược rõ ràng). Và mệnh giá cổ phiếu (ở Việt Nam quy định là 10.000 đồng) chỉ là đơn vị để tính. Ví dụ, doanh nghiệp kinh doanh có lãi 4.000VND/cổ phiếu. Doanh nghiệp quyết định chi trả cổ tức 25%, tức 1.000 VND/cổ phiếu, họ có thể đăng một thông báo là chi trả cổ tức bằng 10% mệnh giá.

Như vậy, quả thực có quy định chi trả cổ tức theo mệnh giá chỉ làm mọi thứ rối thêm. Vì dụ, thị giá cổ phiếu là 21.600 VND thì họ sẽ ra một thông báo là chi trả cổ tức bằng 1.000/21.600=4.629% giá ngày chốt quyền.

Nếu nói cách chia cổ tức theo mệnh giá đang "ủng hộ" nhà đầu cơ lướt sóng thì hoàn toàn không hợp lý. Giá trị cổ phiếu có bị pha loãng hay không là do chính sách của công ty. Ví dụ, như ITA cổ phiếu bị pha loãng vì công ty này muốn tăng vốn hóa nên công ty này không ngừng tặng cổ phiếu thưởng, phát hành thêm cổ phiếu. Nếu có quy định tính chi trả cổ tức theo thị giá thì cũng chẳng ảnh hưởng gì công ty này vì công ty này có trả cổ tức bằng tiền đâu.

Tương tự như vậy, lập luận nếu chia cổ tức theo thị giá sẽ giúp DN có nhiều cơ hội phát hành cổ phần để tăng vốn nghe rất mập mờ, không thuyết phục. Tôi không hiểu lý do gì mà nếu chia cổ tức theo mệnh giá thì làm cổ phiếu pha loãng, còn nếu chia theo thị giá thì không!!!

Thứ Tư, 30 tháng 12, 2009

Mua Cổ Phiếu Quỹ

Gần đây, báo đăng tin nhiều công ty mua cổ phiếu quỹ. Ta tìm hiểu chút kiến thức cơ bản về hành động này.

Mua lại cổ phiếu hay mua cổ phiếu quỹ là việc một công ty mua lại cổ phiếu của chính công ty mình đang giao dịch trên thị trường, và như thế giảm số lượng cổ phiếu lưu hành. Cổ phiếu phổ thông được mua lại trở thành cổ phiếu quỹ. Cổ phiếu quỹ không có quyển biểu quyết, không dùng trong tính toán lợi nhuận trên cổ phiếu (EPS), vào không được trả cổ tức.

Đối với một nhà đầu tư, việc tăng giá cổ phiếu năm giữ và chi trả cổ tức là hai nguồn lợi nhuận thông dụng khi đầu tư vào một công ty. Tuy vậy cũng có những cách khác để công ty chia sẻ lợi nhuận cho nhà đầu tư, và một trong số đó là việc công ty mua lại cổ phiếu.

Quỹ dùng để mua lại cổ phiếu thường là nguốn tiền mặt sẵn có, tuy nhiên công ty vẫn có thể dùng những nguồn khác như nợ (trái phiếu)...

Phương pháp mua lại cổ phiếu

Khi một công ty quyết định mua lại một lượng cổ phiếu đang lưu hành, ban quản trị có thể chọn một vài phương pháp:
1. Mua lại trên thị trường tự do (open market)
2. Chào mua công khai (tender offer)
3. Giao dịch thỏa thuận

Mua lại trên thị trường tự do

Công ty sẽ thông báo đại chúng rằng công ty sẽ mua lại cổ phiếu trên thị trường thứ cấp ở mức giá đang giao dịch, cũng giống như bất kì nhà đầu tư cá nhân nào. Đây là phương pháp thường dùng nhất, và phương pháp này thường kéo dài lâu có khi cả năm. Phương pháp này thường mua lại ít cổ phiếu hơn phương pháp chào mua công khai.

Chào mua công khai

Giá chào mua là giá mềm - tức là cao hơn giá thị trường. Công ty sẽ chào mua từ tất cả cổ đông hiện hữu bằng tiền mặt hoặc những tài sản khác trong một khoảng thời gian xác định sẵn. Doanh nghiệp dùng chào mua với giá đệm này khi họ muốn mua lại một tỉ lệ lớn cổ phiếu, ví dụ từ 10-30%. Đưa ra mức giá đệm này là một sự kiện quan trọng của công ty bởi vì nhà đầu tư sẽ xem đây là tín hiệu tăng trưởng lợi nhuận trong tương lai của công ty. Bởi vì lượng cổ phiếu mua với giá đệm thì thườn lớn hơn so với mua trên thị trường, nên tác động của nó lên giá cổ phiếu sẻ mạnh hơn.

Khi doanh nghiệp chào mua công khai, có thể dùng mức giá cố định hoặc sử dụng hình thức đấu giá ngược.

Khi áp dụng mức giá cố định, doanh nghiệp sẽ thông báo số lượng cụ thể muốn mua, ngày hết hiệu lực, và giá. Nếu số lượng đăng kí bán cao hơn số lượng định mua thì công ty sẽ mua theo tỉ lệ phần trăm đăng kí. Thực tế, doanh nghiệp có thể chấp nhận một lượng cổ phiếu nhiều hơn mức định mua với một mức độ nhất định (<=2% cổ phiếu hiện đang lưu hành) khi có nhiều đăng kí. Để khuyến khích nhà đầu tư bán lại cổ phiếu, công ty thường để mức giá đệm cao hơn giá thị trường. Có nhiều nhân tố ảnh hương đến mức chênh lệch này; ví dụ, khỉ tỉ lệ cổ phiếu đang lưu hành càng lớn thì mức chênh lệch càng cao. Hoặc, khi việc mua lại cổ phiếu là một phần trong chiến lược chống lại việc mua bán sáp nhập, mực chênh lệch cũng cao vì đối thù cũng cần nhiều cổ phiếu. Trong đấu giá ngược, công ty sẽ quy ra mức giới hạn của giá, từ đó chọn ra một mức giá chung để bán cổ phiếu. Đấu giá ngược có ưu điểm là loại trừ được khả năng công ty trả giá quá cao cho cổ phiếu quỹ vì công ty sẽ chọn mức giá thấp nhất để áp dụng mức giá bán chung.  

Giao dịch thỏa thuận

Công ty thỏa thuận với một hoặc nhiều cổ đông để mua lại cổ phiếu với mức giá thỏa thuận. công ty cũng có thể đổi chứng khoán nợ hoặc một loại chứng khoán phái sinh lấy cổ phiếu.

Động lực mua lại cổ phiếu

Tín hiệu tương lai khả quan

Ban quản trị của công ty là những người hiểu rõ về giá trị thực của công ty, trong khi những nhà đầu tư chỉ tiếp cận được với những thông tin được công bố. Vì vậy, khi công ty đề ra chương trình mua lại, đó có thể là tín hiệu cho thấy triển vọng khả quan hơn so với những gì mức giá hiện tại thể hiện. Ban quản trị công ty có thể thay giá cổ phiếu trên thị trường quá thấp vì nhiều lý do, chẳng hạn kết quả lợi nhuận kém hơn dự báo, vấn đề về kế toán, hay tình hình kinh tế trì trệ. Công ty mua lại với mức giá được cho là dưới mức giá trị thực, và sau này sẽ bán ra lại, thường với mức giá cao hơn. Công ty có thể phát biểu rằng không có gì lợi ích bằng đầu tư vào chính công ty mình. Mặc dù vậy, không phải lúc nào cũng đúng.

Phân phối tiền mặt dư

Công ty có thể giảm chi phí thuê giám đốc khi đầu tư nhiều vào những hoạt động kinh doanh không hiệu quả bằng cách phân phối tiền mặt dư cho các cổ đông thông qua mua lại cổ phiếu. Tiền mặt dư là nói đến tiền mặt còn lại sau khi công ty đã đầu tư vào tất cả những dự án có NPV dương. Công ty với triển vọng phát triển kém có thể chọn cách trả lại tiền dư này cho cổ đông thông qua mua cổ phiếu quỹ thay vì đầu tư vào các dự án không khả thi. Nếu công ty cảm thấy khó có thể giữ được mức chi trả cổ tức trong tương lai, thì công ty có thể sử dụng số tiền dư này.

Mua lại cổ phiếu để thi hành nghĩa vụ

Công ty có thể đã phát hành quyền chọn cổ phiếu, có kế hoạch chi trả tiền thưởng, hưu trí, quyền chọn mua cổ phiếu của công nhân viên hay những loại chứng khoán có thể chuyển đổi thành cổ phiếu (sắp) tới ngày thực thi quyền, khi đó công ty cần lượng cổ phiếu để thực thi những nghĩa vụ này. Công ty cũng có thể cần lượng cổ phiếu để dùng trong việc thôn tính công ty khác. Lập luận ở đây cho rằng công ty không có đủ số lượng cổ phiếu cần thiết nhưng không sẵn sàng phát hành cổ phiếu mới. Một ý kiến khác thì cho rằng mua lại cổ phiếu để giảm tác động điều chỉnh (delution) các chỉ tiêu như EPS sau khi các quyền mua cổ phiếu của nhân viên được thực thi.

Điều chỉnh cấu trúc vốn, cải thiện các chỉ số tài chính

Mua lại cổ phiếu có thể thay đổi tỉ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu (debt-to-equity). công ty có thể tận dụng lợi thế về thuế (chứng khoán nợ được khấu trừ thuế).. Lợi ích khác là khi giảm tỉ lệ vốn chủ sở hữu trong cấu trúc vốn thì công ty sẽ giảm chi phí sử dụng vốn, tăng thu nhập trên cổ phiếu cho cổ đông. Thỉnh thoảng, công ty có thể kết hợp phát hành chứng khoán nợ để mua lại cổ phiếu.
Việc cải thiện các chỉ số tài chính có thể là động lực để quản trị công ty mua lại cổ phiếu, song cũng có thể chỉ là hệ quả của những việc này.

Tránh thuế cho nhà đầu tư

Việc mua lại cổ phiếu công ty sẽ làm cho giá trị của cổ phiếu của cổ đông hiện hữu tăng lên. Nếu việc tăng lên này (gọi là capital gains) có lợi hơn trong việc giảm, tránh thuế so với việc chi trả bằng cổ tức thôn thường, thì công ty sẽ áp dụng. Tuy nhiên, cách giải thích này vấp phải sự phản đối vì cho rằng ban quản trị của công ty không thể biết rõ quan điểm của cổ đông.

Một nghiên cứu của Wansley-Lane-Sarkar cho thấy:

* Tất cả những người tham gia trong cuộc nghiên cứu đều đồng ý rằng giả thiết công ty có tín hiệu triển vọng tương lai.
* Những nhà quản trị công ty khẳng định việc mua lại cổ phiếu là một tín hiệu cho thấy họ tin tưởng vào công ty.
* Tất cả các nhà quản trị để phủ nhận việc mua cổ phiếu quỹ vì giá thị trường thấp hay vì tỉ lệ sở hữu của ban quản trị trong công ty đang giảm.

Hiệu ứng của việc mua lại cổ phiếu

Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng việc thông báo mua cổ phiếu làm cổ phiếu quỹ có tác động tích cực đến giá cổ phiếu. Phần lớn đều chỉ ra rằng giá cổ phiếu đều tăng trong ngày thông báo sẽ mua lại phiếu bằng phương pháp mua lại trên thị trường tự do (open market) hay chào mua công khai (tender offer). Chào mua công khai tác động mạnh hơn, tức giá cổ phiếu tăng mạnh hơn, so với việc mua trên thị trường vì chào mua công khai có mức chênh lệch và khối lượng rõ ràng. Công ty mua lại cổ phiếu khi có đủ nguồn lực tài chính cho việc này. Nếu công ty có nợ thì thường các quy định có liên quan thường quy định công ty phải trả hết nợ trước khi mua lại cổ phiếu. Công ty cũng không tiến hành mua lại cổ phiếu như là một cách tránh khỏi bị thôn tính. Và, thị trường thường (có vẻ) không cho rằng công ty tạo tín hiệu lạc quan giản vì giá cổ phiếu còn ảnh hưởng lâu sau khi có thông báo.

Hiệu ứng giá cổ phiếu do thông báo mua lại là vì khi mua lại cổ phiếu, tài sản của công ty giảm xuống (tiền mặt là tài sản), vốn chủ sở hữu cũng giảm (vì số lượng cổ phiếu giảm). Khi đó, các chỉ số về khả năng lợi nhuận như tỷ số lợi nhuận trên tài sản (ROA) hay tỷ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) đều tăng. Và, thị trường coi việc tăng này là điềm tốt. Thêm vào đó, việc mua cổ phiếu quỹ cũng cải thiện chỉ số P/E: do số cổ phiếu giảm nên lợi nhuận trên cổ phiếu EPS tăng, chỉ số P/E sẽ giảm. P/E càng nhỏ thì là tín hiệu tốt cho nhà đầu tư.


Tốt hay xấu

Đó là vấn đề vẫn còn bàn cãi, nhưng có thể chỉ ra những ưu điểm (so với trả cổ tức) như lợi ích về thuế hay công ty linh động hơn trong việc phân bổ lợi nhuận cho cổ đông vì việc mua lại là trả một lần, đặc biệt khi mà công ty không thể giữ được mức chi trả cổ tức đều đặn. Nếu cổ phiếu
của một công ty định giá dưới mức giá trị thật thì việc mua lại làm cổ phiếu quỹ là tín hiệu tốt. Warren Buffet cũng có nói, khi công ty có triển vọng phát triển và tình hình tài chính tốt mà thấy giá cổ phiếu đang được bán với giá thấp hơn giá trị nội tại, thì để mang lại lợi ích cho cổ đông, không cách nào hay hơn việc mua lại cổ phiếu.
Tuy nhiên, cũng có mặt trái, đó là vấn để giữa lợi nhuận riêng tư của cá nhân trong ban quản trị (agency problem). Ban quản trị có thể đề ra chương trình mua lãi cổ phiếu vì lợi ích riêng bởi khi mua lại cổ phiếu thì tỉ lệ nắm giữ của họ trong tổng số cổ phiếu sẽ tăng lên. Họ sẽ có nhiều quyền biểu quyết hơn hay nói cách khác có quyền lực nhiều hơn. Hay mặt trái khác là khi công ty mua lại chỉ là để cải thiện những chỉ số tài chính tạm thời, hay tạo ra một khoảng thời gian ngắn để cứu giá chứng khoán bị tụt quá thấp.

Thứ Sáu, 18 tháng 12, 2009

Mức Bù Rủi Ro Ibbotson

Về lý thuyết, cổ phiếu phải có tỉ suất lợi nhuận cao hơn các khoản đầu tư an toàn như trái phiếu Treasury bonds (của Mỹ). Và khoản chênh lệch được gọi là khoản equity risk premium (mức bù rủi ro cho vốn chủ sở hữu)

Các sách giáo khoa, thường nhắc tới nguồn tham khảo là mức bù rủi ro do một công ty tên Ibbotson Associates, Inc. tính bằng cách tính dựa trên thống kê lợi suất hàng năm của thị trường.

Ibbotson Calculation
ERP = (arithmetic mean total return of stocks) - (arithmetic mean
income return of a risk-free asset)

Ibbotson Associates xuất bản các báo cáo Ibbotson International Risk Premia Reports và được bán trên mạng (không miễn phí):

+ Những quốc gia có tên trong danh sách là Australia, Áo, Bỉ, Canada, Đan Mạch, Pháp, Đức, Ireland, Italy, Nhật, Hà Lan, New Zealand, Tây Ban Nha, Thụy Sĩ, Anh, Mỹ.
+ Mức bù rủi ro bao gồm cả ngắn hạn lẫn dài hạn.
+ Dữ liệu được tính cả bằng nội tệ và USD.

Tuy nhiên, những báo cáo Ibbotson International Risk Premia Reports có những nhược điểm:

+ Những mức bù rủi ro cho vốn chủ sở hữu quốc tế được tính bằng arithmetic mean (trung bình cộng số học), chứ không có geometric mean (giá trị trung bình hình học)
+ Những mức bù này lúc đầu chỉ tính thị trường Mỹ, sau này mở rộng ra thành 16 nước. Những nước này hầu như toàn bột đều là những nước phát triển. Như vậy thiếu mất phần tham khảo về thị trường mới nổi, dĩ nhiên ở đây không có Việt Nam luôn.
+ Cách tính không nhắc tới độ lệch chuẩn.

Một nguồn khác là Ibbotson Stocks, Bonds, Bills & Inflation (SBBI) Yearbook (SBBI Yearbook).

Tham khảo

Table 5: Ibbotson’s long horizon EMRP (1970-2004)


Country
EMRP in local currency

Australia
3.6%

Austria
4.6% (since 1972)

Belgium
6.7%

Canada
3.2%

Denmark
n/a (short horizon: 9.3%)

France
5.8%

Germany
4.0%

Ireland
7.0% (since 1988)

Italy
3.8%

Japan
5.2%

Netherlands
6.1%

New Zealand
0.5% (since 1988)

Spain
n/a (short horizon: 5.4% since 1976)

Switzerland
6.2%

U.K.
6.3%

U.S.
4.9%
Source: Ibbotson Associates 2005

Thứ Năm, 3 tháng 12, 2009

Principal-Agent Problem

Chắc hẳn bạn đã nghe chuyện Steve Jobs, CEO của Apple Inc., không nhận lương (thực ra là nhận lương tượng trưng $1). Nhưng nếu bạn để ý thời gian gần đây, có tin rằng CEO của AIG, Robert Benmosche, dọa nghỉ việc nếu không tăng lương, bạn sẽ thấy ngay đây là một sự đối lập hoàn toàn.

Trong trường hợp của Steve Jobs, ông vừa là đồng sáng lập ra Apple Inc. (ngoài ra ông cũng là đồng sáng lập Pixar, nhưng thông tin này không quan trọng ở đây). Do đó ông là chủ sở hữu của Apple cũng giống như bất kì cổ đông nào (principal). Và việc các cổ đông ủng hộ ông giữ chức CEO (agent) thì mọi việc ông làm cũng đều vì lợi ích cung của cả Apple Inc. Ở đây, mục tiêu cá nhân riêng của ông cùng chung với lợi ích của những nắm giữ cổ phiếu của Apple Inc.

Điều này giống với trường hợp của một công ty nhận vốn mạo hiểm. Khi đó cấp lãnh đạo (managers), đồng thời là sáng lập nên công start-up đó sẽ làm hết mình để đưa công ty đi lên. Lợi ích của cá nhân họ phụ thuộc hoàn toàn vào lợi ích của công ty.

Robert Benmosche thì lại khác: ông làm việc cho nhiều công ty khác nhau, giữ những chức vụ khác nhau. Và CEO là một cái nghề. Ông hiện giữ chức CEO của AIG, và trong mối quan hệ này ông giữ vai trò agent, tức là những cổ đông của AIG thuê ông làm việc với mục tiêu gia tăng lợi nhuận cho tập đoàn. Tuy nhiên, mục tiêu cá nhân của Robert Benmosche không trùng với mục tiêu của những người sở hữu AIG. Báo chí đưa tin rằng ông bất mãn với việc cắt giảm lương thưởng của Chính phủ. Đây chính là biểu hiện rõ nhất của principal-agent problem.

Nhớ bài học đầu tư của Anthony Bolton, cũng giống như nhiều nhà đầu tư giá trị khác, khi phân tích ban lạnh đạo ông thường thích những người có cổ phần lớn trong công ty.

P/S: Để giải quyết vấn đề principal-agent problem, 3 biện pháp là chia quyền sở hữu (cho hoặc bán cổ phần giá thấp), trả lương hậu, và hợp đồng dài hạn. Robert Benmosche sẽ nhận $3 million tiền lương, $4 million cổ phiếu, và $3.5 million thưởng dài hạn hàng năm theo performance.

Thứ Bảy, 28 tháng 11, 2009

Mark-to-market Accounting

Mark-to-market Accounting (kế toán theo giá trị thị trường) không phải là một đề tài mới, thực tế nó là vấn đề tranh cãi từ lâu, đặc biệt là sau vụ gian lận của Enron, và tác động của nó trong khủng hoảng tài chính vừa qua. Tôi tổng hợp lại một vài ý kiến.

Mark-to-market (kế toán theo giá trị thị trường) hay fair value accounting (kế toán theo giá hợp lý) là chuẩn mực kế toán mà ghi nhận giá trị của các công cụ tài chính theo giá hợp lí trên thị trường hiện tại, hoặc giá của các công cụ tương tự.


Ở Mỹ


Enron

Enron phá sản ở Mỹ chưa phải lớn nhất (sau vụ Worldcom), song lại chứa đựng rất nhiều thông tin về sự gian lận kế toán khi sử dụng phương pháp tính theo giá trị hợp lý. Enron sử dụng phương pháp mark-to-market để khai báo doanh thu. Enron sử dụng cho hàng tồn kho, ngoài ra còn có các giao dịch forwards, swaps, options, các hợp đồng vận chuyển năng lượng và các loại hợp đồng khác. Các hợp đồng dài hạn do được điều chỉnh theo giá hợp lý, được tính bằng cách ước lượng giá trị hiện tại của dòng tiền tương lai, nên đã thổi phồng con số lợi nhuận. Đặc biệt, Enron dùng kế toán mark-to-market cho các công ty con chuyên biệt, được gọi là price-risk-management. Enron ghi nhận lợi nhuận ngay khi ký một hợp đồng dài hạn với một công ty công nghệ, khi hợp đồng chấm dứt trước thời hạn (thật ra không có công nghệ nào) nhưng Enron vẫn tiếp tục ghi nhận lợi nhuận mặc dù lỗ.

FAS 157

Tiêu chuẩn FAS 157 bắt đầu có hiệu lực ngày 15/11/2007, theo đó các tài sản của các financial institutions sẽ chia làm 3 level:

* Level 1: Tài sản có giá thị trường
* Level 2: Tài sản không có giá thị trường, chúng được định giá theo một mô hình. Mô hình này được tính dựa theo giá những loại chứng khoán tương tự, mức lãi suất ...
* Level 3: loại này không có giá thị trường, cũng chẳng có mô hình để tính toán, nên người ta sẽ đưa ra giả định khi lập báo cáo tài chính.

Như vậy, ai cũng dễ dàng thấy sơ hở của loại tài sản level 3 này. Giả định thế nào thì gọi là hợp lí. Vấn đề của kế toán mark-to-market ở đây là luôn phải ghi nhận theo giá trị thị trường. Tuy nhiên , khi kinh tế gặp khủng hoảng, nhiều loại tài sản, hay công cụ tài chính bỗng chốc mất tính thanh khoản. Giá thị trường thị tụt dốc không kìm hãm được. Nếu các tổ chức tài chính có tài sản lớn đặc biệt các loại chứng khoán tổng hợp sử dụng phương pháp mark-to-market sẽ ghi nhận những khoản lỗ lớn khi mà các nhà đầu tư hoảng sợ, cả thị trường chỉ bán, và thậm chí nhưng giao dịch. Bank for International Settlements đề nghị kế toán theo giá trị của các chứng khoán thế chấp dưới chuẩn được xếp hạng AAA (sử dụng ABX index). Điều này làm cho các khoản lỗ trầm trọng hơn.

Ngày 9/4/2009, FASB đã cập nhật bản FAS 157: sẽ lới lỏng không quy định mark-to-market khi thị trường không ổn định. Nhóm đầu tiên sẽ áp dụng từ 15/3, còn tất cả sẽ áp dụng từ 15/6.

Ở Việt Nam


Các quy định về kế toán theo giá thị trường rất chung chung, ngay cả trong Thông tư số 210/2009/TT-BTC (ngày 6/11/2009) hướng dẫn áp dụng Chuẩn mực kế toán quốc tế về công cụ tài chính tại Việt Nam. Xin trích vài ý:

Điều 3, khoản 6: Tài sản tài chính hoặc nợ phải trả tài chính được ghi nhận theo giá trị hợp lý thông qua Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh: Là một tài sản tài chính hoặc một khoản nợ phải trả tài chính thỏa mãn một trong các điều kiện sau:
a) Tài sản tài chính hoặc nợ phải trả tài chính được phân loại vào nhóm nắm giữ để kinh doanh. Tài sản tài chính hoặc nợ phải trả tài chính được phân loại vào nhóm chứng khoán nắm giữ để kinh doanh, nếu:
(i) Được mua hoặc tạo ra chủ yếu cho mục đích bán lại/ mua lại trong thời gian ngắn;
(ii) Có bằng chứng về việc kinh doanh công cụ đó nhằm mục đích thu lợi ngắn hạn; hoặc
(iii) Công cụ tài chính phái sinh (ngoại trừ các công cụ tài chính phái sinh được xác định là một hợp đồng bảo lãnh tài chính hoặc một công cụ phòng ngừa rủi ro hiệu quả).
b) Tại thời điểm ghi nhận ban đầu, đơn vị xếp tài sản tài chính hoặc nợ phải trả tài chính vào nhóm phản ánh theo giá trị hợp lý thông qua Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.

Khoản 14: Giá trị hợp lý: Là giá trị mà một tài sản có thể được trao đổi, hoặc một khoản nợ phải trả có thể được thanh toán giữa các bên có đầy đủ hiểu biết, mong muốn giao dịch, trong một giao dịch trao đổi ngang giá.

Điều 17. Trình bày các loại tài sản tài chính và nợ phải trả tài chính

Giá trị ghi sổ của từng loại tài sản tài chính và nợ phải trả tài chính sau được trình bày trong bảng cân đối kế toán hoặc trong thuyết minh báo cáo tài chính:

1- Tài sản tài chính được ghi nhận theo giá trị hợp lý thông qua Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, trong đó tách riêng tài sản tài chính được đơn vị xếp vào nhóm này tại thời điểm ghi nhận ban đầu và tài sản tài chính nắm giữ để kinh doanh;
2 - Các khoản đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn;
3 - Các khoản cho vay và phải thu;
4 - Tài sản tài chính sẵn sàng để bán;
5 - Nợ phải trả tài chính được ghi nhận theo giá trị hợp lý thông qua Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, trong đó tách riêng nợ phải trả tài chính được đơn vị xếp vào nhóm này tại thời điểm ghi nhận ban đầu và nợ phải trả tài chính nắm giữ để kinh doanh;
6 - Nợ phải trả tài chính được xác định theo giá trị phân bổ.

Điều 18. Thuyết minh đối với tài sản tài chính và nợ phải trả tài chính được ghi nhận theo giá trị hợp lý thông qua Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.

1 - Nếu đơn vị phân loại một khoản cho vay hoặc phải thu (hoặc nhóm các khoản cho vay hoặc phải thu) vào nhóm được ghi nhận theo giá trị hợp lý thông qua Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, đơn vị sẽ phải thuyết minh về:
a) Mức độ rủi ro tín dụng tối đa của khoản cho vay hoặc phải thu (hoặc nhóm các khoản cho vay hoặc phải thu) tại ngày báo cáo;
b) Mức độ giảm thiểu rủi ro tín dụng của các công cụ phái sinh tín dụng có liên quan hoặc các công cụ tương tự;
c) Giá trị hợp lý của khoản cho vay hoặc phải thu (hoặc nhóm các khoản cho vay hoặc phải thu) cuối kỳ, những thay đổi về giá trị hợp lý trong kỳ do thay đổi về rủi ro tín dụng của tài sản tài chính;
d) Giá trị hợp lý cuối kỳ và thay đổi về giá trị hợp lý trong kỳ của các công cụ tài chính phái sinh tín dụng có liên quan hoặc các công cụ tương tự kể từ khi khoản cho vay hoặc phải thu được phân loại vào nhóm này.

2 - Đơn vị phải thuyết minh các thông tin sau đối với nợ phải trả tài chính được ghi nhận theo giá trị hợp lý thông qua Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh:
a) Giá trị hợp lý cuối kỳ, những thay đổi về giá trị hợp lý trong kỳ do thay đổi về rủi ro tín dụng của các khoản nợ phải trả tài chính.
b) Chêch lệch giữa giá trị ghi sổ của nợ phải trả tài chính và giá trị đơn vị phải thanh toán khi đáo hạn theo hợp đồng cho chủ sở hữu của các khoản nợ đó.

Điều 28. Thuyết minh về giá trị hợp lý

Đơn vị phải thuyết minh các thông tin về giá trị hợp lý như sau:
1- Giá trị hợp lý của những tài sản và nợ phải trả tài chính để có thể so sánh giá trị hợp lý và giá trị ghi sổ.
2 - Các phương pháp xác định giá trị hợp lý của từng loại tài sản hay nợ phải trả tài chính.

Như vậy, là việc áp dụng giá trị hợp lí sẽ gồm cả tài sản và nợ tài chính (so với trước đây, giới kiểm toán có thảo luận là chuẩn mực kế toán Việt Nam chỉ có tài sản mới định giá theo giá thị trường). Tuy nhiên, ở Việt Nam chưa phân định rõ cách tính giá trị của các công cụ tài chính, và chỉ giới thiệu các phương pháp thẩm định giá. Có lẽ ở Việt Nam chưa có loại Level 3 asset như trong trong FAS 157, nên các công cụ tài chính ở Việt Nam sẽ giống như Level 1, Level 2.
Cũng không thấy quy định về tính giá trị hợp lý của các illiquid assets, trong khi ở Việt Nam hay biến động về lãi suất.

Bạn nào am hiểu lịnh vực kế toán, kiểm toán xin cho ý kiến với.

Thứ Bảy, 21 tháng 11, 2009

Gian Lận Kế Toán 2009 Tăng

Theo cuộc khảo sát của hãng kiểm toán PricewaterhouseCoopers PWC thì các vụ gian lận kế toán của các công ty toàn cầu.

Cuộc khảo sát gồm 3,000 lãnh đạo cấp cao ở 54 quốc gia cho thấy các vụ gian lận tăng lên 38%, cao hơn mức 27% trong cuộc khảo sát của hãng này năm 2007.

Hai loại gian lận phổ biến nhất là định giá sai tài sản (67%), bao gồm việc mất trộm tiền mặt, hàng tồn kho, và hối lộ, tham nhũng (27%).

Theo tôi thì chắc chắn tỉ lệ các công ty làm ăn sa sút hơn vì những tác động của khủng hoảng tài chính trực tiếp hay gián tiếp. Các công ty chắc hẳn đã phải gặp khó khăn hơn trong việc tìm vốn. Rất nhiều công ty đã chọn giải pháp cắt giảm nhân lực để tồn tại. Do đó các công ty có nhiều áp lực hơn để làm giả các báo cáo tài chính.

Tải bản khảo sát này: PWC Global Economic Crime Survey 2009