Thứ Năm, 30 tháng 4, 2009

Họ Nhữ


Họ Nhữ, cái họ của tui đó, đi đâu người ta cũng kêu là lạ. Thỉnh thoảng người ta cứ đọc lộn thành Lữ, hay Ngữ hay Nguyễn, nếu không có gì quan trọng thì tôi cũng ừ cho xong.

Chữ "nhữ", chữ Hán viết là một chữ "nữ" phía trước có bộ "thủy" 汝. Thật ra tôi cũng chẳng hiểu lắm về ý nghĩa chữ này.

Theo “Nhữ tập phả ký” do tiến sỹ Nhữ Đình Toản (1701 - 1773) thì người họ đầu tiên được biết đến ở Việt Nam là tiến sĩ Nhữ Văn Lan, đỗ hoàng giáp đời vua Lê Thánh Tông (1463), và ông là thủy tổ họ Nhữ.
Dĩ nhiên, tôi nghĩ là họ Nhữ có nguồn gốc từ Trung Quốc. Ví dụ như trong chuyện Ỷ Thiên Đồ Long Kí của Kim Dung: người đầu tiên có bảo đao đồ long là một vị quan nhà Nguyên tên Nhữ Dương Vương (có bản dịch là Nhữ Nam Vương), cha của Triệu Mẫn đó! Bối cảnh bắt đầu từ những cuộc bạo động của nông dân chống lại hoàng đế Mông Cổ năm 1325 và kết thúc vào năm 1368. Tôi cũng thử search trên google thì cũng thấy nhiều người Trung Quốc mang họ Nhữ, ví dụ như 汝明麗老師 -- Nhữ Minh Lệ lão sư, bà này đang ở Taiwan.

Nói về họ Nhữ ở Việt Nam thì thủy tổ Nhữ Văn Lan quê làng An Tử Hạ, huyện Tiên Lãng, Hải Phòng. Các hậu duệ sau này thì di cư cư đi nhiều nơi khác.

Một điều thú vị là con gái của tiễn sĩ Nhữ Văn Lan là tiểu thư Nhữ Thị Thục (sau này phong Từ Thục Phu Nhân) nhan sắc tuyệt vời, thông minh xuất chúng, thông kinh sử giỏi văn chương. Tương truyền bà kén chọn chồng, muốn lấy Mạc Đăng Dung (hậu duệ mấy đời Mạc Đĩnh Chi, người sau này cướp ngôi vua lập ra nha nhà Mạc). Bà sau này lấy chồng sinh ra Nguyễn Bỉnh Kiêm. Bà luôn muốn con sau này làm vua, nhưng chồng bà sợ chém đầu nên bà bỏ về. Sau này Nguyễn Bỉnh Khiêm đỗ trạng nguyên, gọi là trạng Trình. Dòng họ Nguyễn sau này lấy tên lót Nhữ, nên hiện giờ có từ đường họ Nguyễn Nhữ ở Hải Phòng.
Bà Thục sau này lấy thêm đời chồng, và sinh ra Phùng Khắc Khoan, cũng đậu trạng nguyên, gọi là trạng Bùng.

Thời phong kiến thì người ta coi trọng việc học hành đỗ đạt, nên thành tựu của họ Nhữ là có nhiều người đậu tiến sĩ, và có tên ghi trên lưng mấy con rùa trong văn miếu Quốc Tử Giám. Đặc biệt dòng họ có 4 đời liên tiếp đỗ tiến sỹ là dòng họ Nhữ ở Hoạch Trạch (Thái Học, Bình Giang, Hải Dương). (Tôi sinh ra ở đây.) Nhiều người làm quan to, giúp dân làm ăn, sử kiện công minh, hoặc tạo làng nghề (như nghề làm lược)...

Một số thông tin liên quan khác
- Có một làng tên Nhữ Xá ở Hải Dương, làng này hầu như cả làng mang họ Nhữ.
- Chuyện cổ tích Mắng Thần Phá Miễu là nói về Nguyễn Bỉnh Khiêm, trong đó nhắc đến Nhữ Thị Thục, Mạc Đăng Dung, Phùng Khắc Khoan
- (Công tử) Nhữ Đình Toản, một trong "Tràng An tứ hổ " mong lọt vào mắt xanh của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm nên cùng bạn hữu (Vũ Diệm) đến thăm. Nữ sĩ sai người nhà đem trầu cau ra tiếp, trên khay có bức hoa tiên ghi dòng chữ rồng bay phượng múa:
"Đình tiền thiếu nữ khuyến tân lang".
Câu này có nghĩa đen là: Trước sân gió thoảng phất cây cau. Thiếu nữ là cơn gió nhẹ, tân lang là cây cau; nhưng nghĩa bóng của câu này theo cách đồng âm: Trước sân, người con gái mời chàng rể mới. (Thiếu nữ: Con gái. Tân lang: Chàng rể).
Không ai đối được nên ... bỏ về!
- Nhữ Đình Hiền là ổng tổ nghề làm lược.
- Nguyễn Phi Khanh, cha của Nguyễn Trãi lấy bà vợ kế người họ Nhữ ở xã Mộc Nhuận, nay là xã Đông Yên, huyện Đông Sơn. Bà sinh được hai người con trai tên là Nguyễn Nhữ Soạn, là một tướng tài, cũng Nguyễn Trãi giúp Lê Lợi dựng nghiệp. Trong vụ án Lệ Chi Viên, thì họ Nhữ là một trong những họ bị xử trảm.

(Ảnh minh họa là của họa sĩ Nhím (Nhữ Đình Ngoạn))



Update 05/10/2009:
Một vài hình ảnh trên bia ở Văn Miếu:

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket