Thứ Tư, 4 tháng 11, 2009

Trắc Nghiệm Đầu Tư Của Peter Lynch

BusinessWeek có bài lưu trữ (11/09/1998) rất hay về một bài kiểm tra trắc nghiệm nhà đầu tư của Peter Lynch: PETER LYNCH'S INVESTOR TEST

Tuy nội dung 10 câu hỏi này hoàn toàn về về thị trường chứng khoán Mỹ, nhưng ta có thể thấy được quan điểm về đầu tư của nhà đâu tư huyền thoại này.
Bài test này do chính Peter Lynch viết, riêng phần đáp án là được tham khảo từ Fidelity Investments, và các nguồn tin đại chúng.



CÂU HỎI

1. Lý do cơ bản giá cồ phiếu tăng theo thời gian là

    A. Nhà đâu tư bỏ thêm tiền mới vào mua cổ phiếu
    B. Các công ty tăng trưởng lợi nhuận trên cổ phiếu (earnings per share) theo thời gian
    C. Nhà đầu tư thường luôn lạc quan.
    D. Dân số Mỹ tăng.

2. Có bao nhiêu lần thị trường điều chỉnh (giảm 10% hoặc hơn) kể từ 1970?

    A. 5
    B. 9
    C. 12
    D. 21

3. Năm tiêu đề tin tức xuất hiện trên các báo vào quý 4 năm 1990:

    "The Real Estate Bust," Newsweek
    "Uncertainty Reigns for U.S. Economy," The Wall Street Journal
    "Can America Still Compete?" Time
    "Can Your Bank Stay Afloat?" U.S. News & World Report
    "Troops March Closer to War," Washington Post

Lợi nhuận đấu tư thị trường cổ phiếu năm tiếp theo là?

    A. -6.8%
    B. 3.4%
    C. 12.2%
    D. 30.5%

4. Nếu bạn tính toán thời điểm của thị trường trong suốt 20 năm qua, và có điều không may là không còn cổ phiếu và chỉ có tiền mặt trong suốt 15 tháng "tốt nhất" (khi mà giá cổ phiếu tăng mạnh nhất), bạn sẽ bỏ phí 76% lợi nhuận thu được bởi một nhà đầu tư cồ phiếu với chiến thuật mua và nắm giữ.

    A. Đúng
    B. Sai

5. Quyết định có ảnh hưởng lớn nhất đến rủi ro và lợi nhuận của khoản đầu tư của bạn là:

    A. Quyết định phân phối tiền đầu tư như thế nào vào các loại tài sản (cồ phiếu, trái phiếu, hay tiền mặt)
    B. Quyết định nên mua cổ phiếu riêng rẽ hay quỹ mutual funds
    C. Quyết định cổ phiếu hay chứng chỉ quỹ mutual funds nào để mua

6. Giá cổ phiếu giảm trong suy thoái, nhưng chúng có xu hướng phục hồi cùng lúc khi nền kinh tế phục hồi.

    A. Đúng
    B. Sai

7. Khoảng thời gian 10 năm nào cho thấy tổng lợi nhuận đầu tư cao nhất của S&P 500 kề từ 1926?

    A. Tháng 6, 1949 đến tháng 5, 1959
    B. Tháng 6 1980 đến tháng 5, 1990
    C. Tháng 1, 1988 đến tháng 12, 1997

8. Chỉ số S&P 500 giảm 21.5% vào tháng 10, 1987, tháng mà khủng hoảng 1987 (Crash of '87') xảy ra. Tổng lợi nhuận đầu tư vào trái phiếu chính phủ trung gian (intermediate government bonds) trong tháng này là?

    A. -10.8%
    B. -5.3%
    C. 1.2%
    D. 3.0%
    E. 14.3%

9. Kể từ 1926, cổ phiếu công ty nhỏ tốt hơn cổ phiếu công ty lớn.

    A. Đúng
    B. Sai

10. Một khoản đầu tư $1,000 vào thì trường cổ phiếu Mỹ năm 1982 sẽ tăng lên một con số ngạc nhiên nhày hôm nay là $11,271. Những nước nào sau đây sẽ còn tốt hơn?
(chú ý bài test này khoảng 11/1998)
    A. Britain (Anh)
    B. Sweden (Thụy Điển)
    C. The Netherlands (Hà Lan)
    D. Hong Kong
    E. Tất cả những nước trên

ĐÁP ÁN VÀ GIẢI THÍCH

1.
Đáp án: B. Về cơ bản giá cổ phiếu sẽ theo sát lợi nhuận doanh nghiệp. Kể từ sau thế chiến World War II, lợi nhuận tăng 54 lần, còn thị trường cổ phiếu tăng đến 63 lần. Trong vòng 6 năm trở lại đây, lợi nhuận doanh nghiệp là gần như gấp đôi, S&P 500 thì tăng 2.5 lần. Có sự liên hệ chặt chẽ ờ đây.

Dĩ nhiên, những yếu tố ngắn hạn có ảnh hưởng thị trường, và lượng tiền khổng lồ đầu tư vào cổ phiếu thông qua các quỹ 401(k) plans và sự phát triển và phổ biến của các quỹ mutual funds đã có tác động tốt. Nhưng nếu, ví dụ, lượng tiền tương tự đổ vào cổ phiếu mà lợi nhuận các doanh nghiệp vẫn dậm chân hay giảm sút, tôi tin giá chứng khoán năm 1998 dễ hiểu sẽ còn giảm xuống hơn nữa.

Vì vậy, nếu bạn tin rằng nền kinh tế sẽ tiếp tục tiến triển, và doanh nghiệp Mỹ tiếp tục tăng lợi nhuận, thì sẽ thật có lý khi sỡ hữu cổ phiếu.

Nguồn: Ibbotson Encorr, Haver Analytics, Fidelity Investments, first quarter, 1998.

2.
Đáp án: C. 12 lần điều chỉnh kể từ 1970 nghĩa là trung bình cứ 2.5 năm sẽ có một lần điều chỉnh. Chúng xảy ra vào các năm 1970, 1971, 1973-1974, 1977, 1979, 1980, 1981, 1984, 1987, 1989-1990, 1990, and 1997. Mức điều chình 10% có thể không ghê lắm nhu7nng nếu xem lại thế này: : Mùa hè 1998 chỉ số Dow leo lên 9,000 điểm. 10% của 9,000, sẽ là một con số khiến bạn phải mở mắt to: rớt 900 điểm.

Nguồn: DRI/McGraw-Hill, Fidelity Investments, 1998.

3.
Đáp án: D. 30.5%. Điều này ý nói gì? Đừng đề những tiêu đề báo chí làm bạn sợ hãi không dám mua cổ phiếu. Bạn hãy bám kế hoạch của mình trong suốt thời gian suy giảm, điều chỉnh hay thị trường con bò.

1990 là một năm khủng khiếp. Xe tăng của Saddam Hussein lăn bánh vào vào Kuwait. Nửa triệu lính Mỹ gợi tới vịnh Persian Gulf, cùng hàng túi chứa đồ.  Ngân hàng, tiết kiệm, cho vay đều trên bờ vực đổ vỡ (on the ropes). Lạm phát, lãi suất ngày một tăng. Khi suy giảm bắt đầu, thì người dân bị mất việc. Những tin tức thảm hại, và nhà đầu tư thì lo sợ. Ở Wall Street, chỉ số Dow rớt hơn 21%, từ 3,000 lúc tháng 7 xuống 2,365 vào tháng 10. (21% nếu Dow sụt giảm trong mùa hè 1998 sẽ lớn hơn 1,800 đểm nhiều.)

Trái với những u tối năm 1990, 1991 là một năm tuyệt vời với cổ phiếu. Ấn tượng hơn, chỉ số S&P 500 đã liên tục tăng từ 30.5% năm 1991 nên gấp 3 lần năm 1998. Những người bám thị trường (market timers) mà không có chứng khoán đã bỏ lỡ khoảng 7 năm tăng trưởng lớn nhất trong lịch sử Mỹ hiện đại.

Nguồn: Bloomberg, Ibbotson Encorr, General Accounting Office, Fidelity Investments, 1998.

4.
Đáp án: A. Đúng. Đừng cố gắng tính toán thời điểm thị trường (time the market). Tính toán chi li, bạn bõ lỡ những lợi nhuận quan trọng. Nếu bạn đầu tư $1,000 vào S&P 500 năm 1978, 20 năm sau khoản đầu tư của bạn nhân lên $21,750.  Tuy nhiên, nếu bạn nhảy ra khỏi thị trường trong thời điểm 15 tháng tốt nhất, $1,000 chỉ tăng lên có $6,010. Cái đó chỉ hơn Treasury bills một chút thôi.

Nguồn: Ibbotson Encorr, Fidelity Investments, 1998.

5.
Đáp án: A. Lựa chọn đúng quỹ là xem xét thứ hai. Một nghiên cứu học thuật về pension-plan managers cho thấy 91.5% sự khác biết giữa hiệu suất lợi nhuận một portfolio và một portfolio khác nằm ở việc phân bổ các tài sản. Vì thế việc bạn chia danh mục thanh cổ phiếu, trái phiếu, tiền mặt như thế nào là rất quan trọng. Hãy tìm sự phân chia phù hợp với mức chấp nhận rủi ro, và lịch trình bạn sẽ cần tiền. Một khi bạn có quyết định quan trọng đó, hãy chọn khoảng đầu tư riêng cho bạn và bám lấy kế hoạch của mình.

Nguồn: Brinson, Singer, and Beebower (Financial Analysts Journal/ May-June, 1991), Fidelity Investments, 1998.

6.
Đáp án: B. Sai. Lịch sử cho thấy giá cổ phiếu giảm khi bước vào khủng hoảng, nhưng sau đó phục hồi trước khi toàn bộ nền kinh tế phục hồi. Lý do giá cổ phiếu phục hồi sớm là do vài nhà đầu tư mong đợi vào sự tăng trưởng của lợi nhuận doanh nghiệp và bắt đầu mua thêm cổ phiếu. Tiềm năng lợi nhuận tăng lên ở thị trường cổ phiếu làm cho cổ phiếu có giá trị hơn, vì nhà đầu tư sẵn sàng trả giá cao hơn để được những lợi nhuận đó.

Trong suốt thời kỳ như vậy, những bàn tán ồn áo khó chịu, giá cổ phiếu thì ngày một xuống, lượng tin xấu từ phương tiện đại chúng, bạn bè, đồng nghiệp lại càng tăng. Họ luôn nhắc nhỏ bạn rằng suy giảm kinh tế suy giảm như thế nào. Đừng hoảng loạn. Háy bám lấy đầu tư cổ phiếu của mình. Và cùng tiến với nó.

Nguồn: Ibbotson Encorr, National Bureau of Economic Research, Fidelity Investments, 1998.

7.
Đáp án: A. Nhà đầutư cổ phiếu nhận được phần thưởng lớn trong suốt thập niên 1949-1959 khi mà S&P 500 đem lại lợi nhuận trung bình hàng năm là 21.4% từ tháng 6, 1949 đến tháng 5, 1959. Nền kinh tế phát triển nhanh vào thập niên 1950, trong khi lạm phát và lãi suất đều giữ ở mức thấp. Giá cổ phiếu rẻ, vào đầuthập niên, S&P 500 bán với P/E chỉ có 6. (Lo sợ một cuộc khủng hoảnh 1929-1939 lặp lại, nhiều nhà đầu tư không còn tin tưởng vào cổ phiếu và tránh xa chúng. Kết quả là cổ phiếu của những công ty lớn chỉ bán với giá gấp 6 lần lợi nhuận. chỉ bằng một nửa giá thông thường.)

Đây quả là sự kết hợp như mơ: nền kinh tế ổn định, lạm phát và lãi suất thấp, và giá cổ phiếu hời. $1,000 đầu tư tháng 6, 1949 tăng lên khoảng $6,970 vào tháng 5, 1959! Múc này cao hơn nhiều so với 10 năm 1988-1997, khi lợi nhuận bình qua6nha2ng năm là 18.9% ($1,000 tăng lên khoảng $5,670).

Những sự kiện chính của thập niên 6/1949-5/1959: xây dựng sau chiến tranh bùng nổ, giá cả hàng hóa cơ bản (commodities) cao hơn, việc làm bắt đầu trọng hệ thống liên bang, chiến tranh Korea War, khởi đầu chiến tranh lạnh. Lạm phát trung bình ở mức thấp 2%, trong khi sản lượng công nghiệp tăng gần 6%.

Nguồn: Ibbotson Encorr, Haver Analytics, DRI, Fidelity Investments, 1998.

8.
Đáp án: D. 3.0%. Trái phiếu đã tăng trưởng tốt khi thị trường cổ phiếu đổ vỡ -- thêm một lý do để nắm giữ chúng.
Tháng 10, 1987, được viết trong sách giáo khoa là ví dụ của "flight to quality" (bay đi tìm chất lượng) khi mà những nhà đầu tư sợ hãi tìm chỗ trú chân trong những trái phiếu và  Treasury bills. Trái phiếu trở nên có giá trị hơn sau khi Fed giảm lãi suất xuống mức để tạo "thanh khoản" cho hệ thống ngân hàng. Tổng lợi nhuận đầu tư trái phiếu chính phủ dài hạn tháng đó là 6.2%.

Nguồn: Ibbotson Encorr, Fidelity Investments, 1998.

9.
Đáp án: A. Đúng. Công ty nhỏ lãi 12.7%/năm từ 1926 đến 1997, trong khi cổ phiếu cty lớn hơn lời có 11%. Tại sao cổ phiểu nhỏ (cổ phiếu cty nhỏ) lại tốt hơn? Những cỗ máy tài chính như Wal-Mart, Home Depot, Intel, và Microsoft khởi nghiệp từ những công ty nhỏ, rồi sau đó tăng dần lợi nhuận không ngừng cho đến khi họ trở thành những công ty lớn. Nhà đầu tư thamgia ngay từ đầu có thể được lợi từ 10, 20, thậm chí 100 lần. Đầu tư vào những công ty nhỏ thì mạo hiểm hơn đầu tư vào những cty lớn, bởi vì công ty nhỏ dễ bị tác động bời trì trệ kinh tế và giá cổ phiếu lên xuống rất mạnh.

Nguồn: Ibbotson Encorr, Fidelity Investments, 1998.
Những cty được nhắc tên chỉ là mục đích tham khảo, và không được xem là khuyến cáo, hay khuyến nghị nên đầu tư.


10.
Đáp án: E. Tất cả những nước trên. Mọi thị trườn nước ngoài kể trên để tăng trưởng tốt hơn, tính bằng dollars, thị trường Mỹ từ 31/12/1982 tới 31/12/1997. Nước tăng cao nhất là Netherlands (Hà Lan)
$1,000 đầu tư năm 1982 tăng lên $23,346 năm 1997.

Một vài thập niên sẽ tốt hơn(so với thập niên khác) đối với cổ phiếu quốc tế, nhưng nhà đầu tư dài hạn cũng nên suy xét chuyển dịch một phần tài sản ra nước ngoài. Bằng cách phân bổ 15% trong danh mục đầu tư của mình cho cổ phiếu quốc tế từ 1970-1997, bạn sẽ giảm biến động giá mà không sợ giảm lợi nhuận.

Luôn nhớ rằng cổ phiếu quốc tế không phải lúc nào cũng đi lên. Chúng cũng có điều chỉnh và thị trường con bò hệt như thị trường trong nước, Từ đỉnh 1989 tới 4/1998, thị trường Nhật Bản  giảm hơn 50%. Nếu bạn đầu tư vào đó, dù bạn là người Nhật hay Mỹ, bạn cũng mất tiền. Nước Italy cũng mất gần 50% từ 1990-1992. Trong năm ngoái, Singpaore và Hong Kong giảm 50%, còn Malaysia rớt gần 75%.

Những thị trường mới nổi càng nhỏ thì lại càng thấy rủi ro cho nhà đầu tư hơn thị trường phát triển lớn hơn. Lựa chọn những nước tốt nhất không phải chuyện dễ, đó cũng là lý do tại sao tốt nhất nên đa dạng hóa danh mục đầu tư ở thị trường quốc tế.

Đầu tư nước ngoài sẽ có rủi ro lớn hơn ở Mỹ, gồm cả rủi ro về chính trí, kinh tế, và cả rùi ro về biến động tỷ giá ngoại tệ.

Nguồn: Morgan Stanley Capital International, Fidelity Investments, 1998.