Hiển thị các bài đăng có nhãn chứng khoán. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn chứng khoán. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 15 tháng 5, 2010

Bài Học Từ Vụ SSI

Mọi chuyện bắt đầu từ bài báo của Bloomberg ngày 10/5 nói rằng Việt Nam có thể phá giá 4%, và trích dẫn thông tin trên từ SSI. Điều này sau đó đã dẫn tới một phiên giao dịch hoảng loạn. Và rất nhiều nhà đầu tư nhỏ lẻ công kích chủ tịch SSI là Nguyễn Duy Hưng vì cho rằng ông này tung tin đồn thất thiệt để trục lợi từ việc giá chứng khoán giảm. Ngày 13/5, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã bác bỏ tin đồn về việc sẽ điều chỉnh giảm tỷ giá 4% so với USD.

Tôi rút ra vài bài học:

1. Đứng ở góc độ một nhà quản lý (đb là có tầm ảnh hưởng lớn tới thị trường khi trả lời giới truyền thông thì nên tránh nói trực tiếp những số liệu cụ thể, tuyệt đối, mà chị nên nói chung chung giống như cách mà các quỹ như VinaCapital khi họp báo, thảo luận. Nếu đưa ra nhận định tốt nhất là phải có chuẩn bị cơ sở phân tích tốt vì ở Việt Nam cũng chẳng thoải mái lắm trong việc tự do ngôn luận khi mà mọi thứ đều phải kiểm duyệt. Trong trường hợp SSI này, thì thật ra đó là nhận định (vì có cụm từ "có thể sẽ") chứ không phải là số liệu, dữ liệu, hay thông tin thực tế nên nếu gọi là tin đồn thì không đúng. Tuy nhiên, theo cách giải trình sau này của Chủ tịch SSI thì lập luận phân tích có vẻ không ổn lắm.

2. Đối với nhà đầu tư, thông tin nhận định của các công ty chứng khoán, quản lý quỹ chỉ mang tính tham khảo mà thôi. Nếu nhà đầu tư tham gia thị trường thì họ phải chuẩn bị kiến thức (ở VN hiện những nhà đầu tư cá nhân chỉ tham gia lướt sóng cổ phiếu), để đầu tư, chứ không thể lúc nào cũng trông chờ vào chuyện cơ quan quản lý sẽ bảo vệ mình khi bị thua thiệt. Trước đây, tôi có coi nhiều báo cáo phân tích vĩ mô của HSBC cũng có nói về chuyện tỷ giá. Tuy nhiên, phân tích của HSBC không trùng với quyết định của ngân hàng nhà nước, có thể là vì i)những người quản lý VN (tức NHNN) chưa kịp nghĩ đến mức đó ii) họ cần thời gian để nghiên cứu, nghe ngóng xem những nước xung quanh xử lý như thế nào. Nhưng cũng để ý rằng cơ cấu lợi nhuận của một ngân hàng ngoại thì cũng khoảng 40% là kinh doanh ngoại hối và trái phiếu. Nên tại sao ta không tự hỏi ngoài chuyện PR cho dịch vụ của mình, những những bài phân tích còn có mục đích gì khác?

3. Cơ hội trong khủng hoảng. Với cái tin có thể phá giá tiền đồng 4% thì những người dễ ảnh hưởng nhất là nhà đầu tư nước ngoài, và kéo theo cả thị trường. Quả thật, cái tin này đã làm nhiều cổ phiếu giảm sàn, hoặc gần sàn. Đây là cơ hội quá tốt để mua vào, vì nhiều cổ phiếu sau khi tăng cao hồi tháng 4 đã giảm trở lại. Chẳng phải cao xa như Warren Buffett hay John Paulson mà đó cũng là nhận định của một người có kinh nghiệm trong nhóm đầu tư với tôi. Bởi vậy, kiềm chế tâm lý khi giao dịch cũng là một lời khuyên tốt.

Thứ Sáu, 2 tháng 4, 2010

Mức Phạt Tiền Vi Phạm Luật Chứng Khoán

 Nhân chuyện bà Nguyễn Thị Kim Phượng, cổ đông lớn của Công ty Cổ phần Vận tư vận tải xi măng (mã: VTV) bán sạch cổ phiếu mà không công bố thông tin trước, ta bàn thêm một chút về các mức phạt tiền của những hành vi vi phạm Luật chứng khoán.



Để ý trên các báo hàng ngày hay báo điện tử, các mức phạt tiền cho những hành vi vi phạm chỉ dao động từ từ 10 triệu - 70 triệu. Quả thật với mức 70 triệu đồng sẽ chỉ là "gãi ngứa" đối với những người có thu nhập cao (high net-worth individuals), hay chúng ta cứ gọi là đại gia hay "cá mập". Bởi vậy mọi công ty hầu như đều sẵn sàng phớt lờ những quy định của Luật chứng khoán, chẳng hạn như trong việc chào mua công khai. Những quy định xử phạt không tương xứng với hành vi vi phạm khiến cho việc vi phạm pháp luật là chuyện bình thường.
Lấy một ví dụ đơn giản thế này: một nhà đầu tư X có trong tay 1 tỷ đồng, anh ta thao túng giá, và chi phí môi giới giao dịch là chưa đến 10 triệu. Cổ phiếu tăng giá 10%, anh ta bán và thu về lợi nhuận là 90 triệu. Cơ quan luật pháp phát hiện và phạt 70 triệu, như vậy vẫn còn lời 20 triệu.

Như vậy, ngay cả khi mọi vị phạm pháp luật được xử lý nghiêm minh thì những mức phạt kia chẳng thấm tháp vào đâu, đó là còn chưa tình đến chuyện tiền đồng ngày càng trượt giá.

Hiện có nhiều kiến nghị cho việc sửa đổi bổ sung Luật chứng khoán mới để bảo đảm cho TTCK hoạt động một cách hiệu quả và lành mạnh. Trong đó đáng chú ý là ý kiến rằng các hành vi vi phạm quy định được nâng từ 70 triệu đồng lên mức 500 triệu đồng. Mức phạt tiền này cao hơn và mang tính răn đe hơn, nhưng dù sao vẫn là một khoản tiền cố định. Có lẽ một quy định về mức phạt gắn với trị giá giao dịch (giả sử trong trường hợp giao dịch nội gián, hay không công bố thông tin) sẽ có tác động mạnh hơn nữa.

Thứ Hai, 30 tháng 11, 2009

January Effect

January effect, hiệu ứng tháng 1 (còn gọi turn-of-the-year effect hay January anomaly) là một trong những hiệu ứng calendar effect quan trọng nhất. Lợi nhuận của cổ phiếu phổ thông vào tháng Một lớn hơn nhiều so với những tháng khác, và hiện tượng này là do sự tăng lên của lượng mua, sau khi giá cổ phiếu giảm vào tháng 12.
Trong khoảng thời gian cuối tháng 11 và tháng 12, giá cổ phiếu bị áp lực giảm giá vì các nhà đầu tư (bao gồm cả nhà đầu tư tổ chức) thường có xu hướng tìm cách bán cổ phiếu để tránh thuế (gọi là tax selling). Tax selling có nghĩa là khi đầu tư vào cổ phiếu một số cổ phiếu bị giảm giá, nếu bán ngay các cổ phiếu này trước 31/12 thì có thể ghi nhận một khoản lỗ. Khi đó, lợi nhuận chịu thuế sẽ giảm xuống và thuế đánh cũng sẽ giảm. Sau khi hết năm mới, người ta lại có xu hướng mua lại những cổ phiếu cũ (hoặc mua mới mà hấp dẫn).
Hiện tượng này tại cơ hội kiếm lời cho nhà đầu tư bằng cách mua cổ phiếu trước tháng một, rồi bán lại khi giá tăng.

Loại anomaly này trên thị trường tài chính chỉ có thể có trong điều kiện thị trường hoạt động không hiệu quả. Nhiều phân tích cho thấy Jannuary effect tập trung trong tuần đầu tiên và các cổ phiếu nhỏ thường có sức tăng mạnh hơn. Tuy nhiên không phải lúc nào cổ phiếu vốn hóa nhỏ cũng tốt hơn cổ phiếu vốn hóa lớn.

Một vài nghiên cứu lại cho thấy January effect không có liên hệ mật thiết với việc lách thuế, đặc biệt khi nghiên cứu ở thị trường các nước không có năm tài khóa là năm dương lịch hay luật thuế khác.

Ở Việt Nam, số liệu lịch sử quá nhỏ nên nghiên cứu có thể kết quả sẽ bị lệch. Hơn nữa các giải thích về thuế cho bộ phận nhà đầu tư cá nhân thì không đúng vì trước khi gia nhập WTO, thuế thu nhập doanh nghiệp là chủ yếu, còn thuế thu nhập cá nhân thì không được nhắc tới. Năm nay, 2009, thuế này mới bắt đầu thí điểm, trong khi ở Mỹ, loại thuế này chiếm tỉ trọng lớn trong ngân sách nhà nước.

Update 4/1/2010: Hôm nay mở đầu phiên giao dịch năm mới, thị trường chứng khoán việt Nam tăng gần hết biên độ.

Chủ Nhật, 15 tháng 11, 2009

Mark Twain Effect

Hôm nay tôi tình cờ đọc được một câu trích dẫn của nhà văn Mark Twain có liên quan đến thị trường chứng khoán. Đây là câu trích trong tác phẩm châm biếm The Tragedy of Pudd'nhead Wilson:

“October. This is one of the peculiarly dangerous months to speculate in stocks in. The others are July, January, September, April, November, May, March, June, December, August, and February.”

“Tháng Mười, đấy là tháng chơi cổ phiếu nguy hiểm nhất; còn các tháng nguy hiểm khác là tháng Bảy, tháng Một, tháng Chín, tháng Tư, tháng Mười một, tháng Năm, tháng Ba, tháng Sáu, tháng Mười hai, tháng Tám và cả tháng Hai nữa.”

Nó đã trở thành một hiệu ứng trong tài chính, khi mà các vụ khủng hoảng tài chính thường xảy ra vào tháng 10. Hiệu ứng Mark Twain này tương tự với October effectHalloween effect mà tôi đã viết trong những bài trước.

Câu nói của nhân vật Wilson còn có ý nghĩa nữa là đầu tư cổ phiếu lúc nào cũng rủi ro. Mark Twain hài hước liệt kê hết các tháng như vậy thì có tháng nào là tháng an toàn đâu! :D

Thứ Tư, 4 tháng 11, 2009

Trắc Nghiệm Đầu Tư Của Peter Lynch

BusinessWeek có bài lưu trữ (11/09/1998) rất hay về một bài kiểm tra trắc nghiệm nhà đầu tư của Peter Lynch: PETER LYNCH'S INVESTOR TEST

Tuy nội dung 10 câu hỏi này hoàn toàn về về thị trường chứng khoán Mỹ, nhưng ta có thể thấy được quan điểm về đầu tư của nhà đâu tư huyền thoại này.
Bài test này do chính Peter Lynch viết, riêng phần đáp án là được tham khảo từ Fidelity Investments, và các nguồn tin đại chúng.



CÂU HỎI

1. Lý do cơ bản giá cồ phiếu tăng theo thời gian là

    A. Nhà đâu tư bỏ thêm tiền mới vào mua cổ phiếu
    B. Các công ty tăng trưởng lợi nhuận trên cổ phiếu (earnings per share) theo thời gian
    C. Nhà đầu tư thường luôn lạc quan.
    D. Dân số Mỹ tăng.

2. Có bao nhiêu lần thị trường điều chỉnh (giảm 10% hoặc hơn) kể từ 1970?

    A. 5
    B. 9
    C. 12
    D. 21

3. Năm tiêu đề tin tức xuất hiện trên các báo vào quý 4 năm 1990:

    "The Real Estate Bust," Newsweek
    "Uncertainty Reigns for U.S. Economy," The Wall Street Journal
    "Can America Still Compete?" Time
    "Can Your Bank Stay Afloat?" U.S. News & World Report
    "Troops March Closer to War," Washington Post

Lợi nhuận đấu tư thị trường cổ phiếu năm tiếp theo là?

    A. -6.8%
    B. 3.4%
    C. 12.2%
    D. 30.5%

4. Nếu bạn tính toán thời điểm của thị trường trong suốt 20 năm qua, và có điều không may là không còn cổ phiếu và chỉ có tiền mặt trong suốt 15 tháng "tốt nhất" (khi mà giá cổ phiếu tăng mạnh nhất), bạn sẽ bỏ phí 76% lợi nhuận thu được bởi một nhà đầu tư cồ phiếu với chiến thuật mua và nắm giữ.

    A. Đúng
    B. Sai

5. Quyết định có ảnh hưởng lớn nhất đến rủi ro và lợi nhuận của khoản đầu tư của bạn là:

    A. Quyết định phân phối tiền đầu tư như thế nào vào các loại tài sản (cồ phiếu, trái phiếu, hay tiền mặt)
    B. Quyết định nên mua cổ phiếu riêng rẽ hay quỹ mutual funds
    C. Quyết định cổ phiếu hay chứng chỉ quỹ mutual funds nào để mua

6. Giá cổ phiếu giảm trong suy thoái, nhưng chúng có xu hướng phục hồi cùng lúc khi nền kinh tế phục hồi.

    A. Đúng
    B. Sai

7. Khoảng thời gian 10 năm nào cho thấy tổng lợi nhuận đầu tư cao nhất của S&P 500 kề từ 1926?

    A. Tháng 6, 1949 đến tháng 5, 1959
    B. Tháng 6 1980 đến tháng 5, 1990
    C. Tháng 1, 1988 đến tháng 12, 1997

8. Chỉ số S&P 500 giảm 21.5% vào tháng 10, 1987, tháng mà khủng hoảng 1987 (Crash of '87') xảy ra. Tổng lợi nhuận đầu tư vào trái phiếu chính phủ trung gian (intermediate government bonds) trong tháng này là?

    A. -10.8%
    B. -5.3%
    C. 1.2%
    D. 3.0%
    E. 14.3%

9. Kể từ 1926, cổ phiếu công ty nhỏ tốt hơn cổ phiếu công ty lớn.

    A. Đúng
    B. Sai

10. Một khoản đầu tư $1,000 vào thì trường cổ phiếu Mỹ năm 1982 sẽ tăng lên một con số ngạc nhiên nhày hôm nay là $11,271. Những nước nào sau đây sẽ còn tốt hơn?
(chú ý bài test này khoảng 11/1998)
    A. Britain (Anh)
    B. Sweden (Thụy Điển)
    C. The Netherlands (Hà Lan)
    D. Hong Kong
    E. Tất cả những nước trên

ĐÁP ÁN VÀ GIẢI THÍCH

1.
Đáp án: B. Về cơ bản giá cổ phiếu sẽ theo sát lợi nhuận doanh nghiệp. Kể từ sau thế chiến World War II, lợi nhuận tăng 54 lần, còn thị trường cổ phiếu tăng đến 63 lần. Trong vòng 6 năm trở lại đây, lợi nhuận doanh nghiệp là gần như gấp đôi, S&P 500 thì tăng 2.5 lần. Có sự liên hệ chặt chẽ ờ đây.

Dĩ nhiên, những yếu tố ngắn hạn có ảnh hưởng thị trường, và lượng tiền khổng lồ đầu tư vào cổ phiếu thông qua các quỹ 401(k) plans và sự phát triển và phổ biến của các quỹ mutual funds đã có tác động tốt. Nhưng nếu, ví dụ, lượng tiền tương tự đổ vào cổ phiếu mà lợi nhuận các doanh nghiệp vẫn dậm chân hay giảm sút, tôi tin giá chứng khoán năm 1998 dễ hiểu sẽ còn giảm xuống hơn nữa.

Vì vậy, nếu bạn tin rằng nền kinh tế sẽ tiếp tục tiến triển, và doanh nghiệp Mỹ tiếp tục tăng lợi nhuận, thì sẽ thật có lý khi sỡ hữu cổ phiếu.

Nguồn: Ibbotson Encorr, Haver Analytics, Fidelity Investments, first quarter, 1998.

2.
Đáp án: C. 12 lần điều chỉnh kể từ 1970 nghĩa là trung bình cứ 2.5 năm sẽ có một lần điều chỉnh. Chúng xảy ra vào các năm 1970, 1971, 1973-1974, 1977, 1979, 1980, 1981, 1984, 1987, 1989-1990, 1990, and 1997. Mức điều chình 10% có thể không ghê lắm nhu7nng nếu xem lại thế này: : Mùa hè 1998 chỉ số Dow leo lên 9,000 điểm. 10% của 9,000, sẽ là một con số khiến bạn phải mở mắt to: rớt 900 điểm.

Nguồn: DRI/McGraw-Hill, Fidelity Investments, 1998.

3.
Đáp án: D. 30.5%. Điều này ý nói gì? Đừng đề những tiêu đề báo chí làm bạn sợ hãi không dám mua cổ phiếu. Bạn hãy bám kế hoạch của mình trong suốt thời gian suy giảm, điều chỉnh hay thị trường con bò.

1990 là một năm khủng khiếp. Xe tăng của Saddam Hussein lăn bánh vào vào Kuwait. Nửa triệu lính Mỹ gợi tới vịnh Persian Gulf, cùng hàng túi chứa đồ.  Ngân hàng, tiết kiệm, cho vay đều trên bờ vực đổ vỡ (on the ropes). Lạm phát, lãi suất ngày một tăng. Khi suy giảm bắt đầu, thì người dân bị mất việc. Những tin tức thảm hại, và nhà đầu tư thì lo sợ. Ở Wall Street, chỉ số Dow rớt hơn 21%, từ 3,000 lúc tháng 7 xuống 2,365 vào tháng 10. (21% nếu Dow sụt giảm trong mùa hè 1998 sẽ lớn hơn 1,800 đểm nhiều.)

Trái với những u tối năm 1990, 1991 là một năm tuyệt vời với cổ phiếu. Ấn tượng hơn, chỉ số S&P 500 đã liên tục tăng từ 30.5% năm 1991 nên gấp 3 lần năm 1998. Những người bám thị trường (market timers) mà không có chứng khoán đã bỏ lỡ khoảng 7 năm tăng trưởng lớn nhất trong lịch sử Mỹ hiện đại.

Nguồn: Bloomberg, Ibbotson Encorr, General Accounting Office, Fidelity Investments, 1998.

4.
Đáp án: A. Đúng. Đừng cố gắng tính toán thời điểm thị trường (time the market). Tính toán chi li, bạn bõ lỡ những lợi nhuận quan trọng. Nếu bạn đầu tư $1,000 vào S&P 500 năm 1978, 20 năm sau khoản đầu tư của bạn nhân lên $21,750.  Tuy nhiên, nếu bạn nhảy ra khỏi thị trường trong thời điểm 15 tháng tốt nhất, $1,000 chỉ tăng lên có $6,010. Cái đó chỉ hơn Treasury bills một chút thôi.

Nguồn: Ibbotson Encorr, Fidelity Investments, 1998.

5.
Đáp án: A. Lựa chọn đúng quỹ là xem xét thứ hai. Một nghiên cứu học thuật về pension-plan managers cho thấy 91.5% sự khác biết giữa hiệu suất lợi nhuận một portfolio và một portfolio khác nằm ở việc phân bổ các tài sản. Vì thế việc bạn chia danh mục thanh cổ phiếu, trái phiếu, tiền mặt như thế nào là rất quan trọng. Hãy tìm sự phân chia phù hợp với mức chấp nhận rủi ro, và lịch trình bạn sẽ cần tiền. Một khi bạn có quyết định quan trọng đó, hãy chọn khoảng đầu tư riêng cho bạn và bám lấy kế hoạch của mình.

Nguồn: Brinson, Singer, and Beebower (Financial Analysts Journal/ May-June, 1991), Fidelity Investments, 1998.

6.
Đáp án: B. Sai. Lịch sử cho thấy giá cổ phiếu giảm khi bước vào khủng hoảng, nhưng sau đó phục hồi trước khi toàn bộ nền kinh tế phục hồi. Lý do giá cổ phiếu phục hồi sớm là do vài nhà đầu tư mong đợi vào sự tăng trưởng của lợi nhuận doanh nghiệp và bắt đầu mua thêm cổ phiếu. Tiềm năng lợi nhuận tăng lên ở thị trường cổ phiếu làm cho cổ phiếu có giá trị hơn, vì nhà đầu tư sẵn sàng trả giá cao hơn để được những lợi nhuận đó.

Trong suốt thời kỳ như vậy, những bàn tán ồn áo khó chịu, giá cổ phiếu thì ngày một xuống, lượng tin xấu từ phương tiện đại chúng, bạn bè, đồng nghiệp lại càng tăng. Họ luôn nhắc nhỏ bạn rằng suy giảm kinh tế suy giảm như thế nào. Đừng hoảng loạn. Háy bám lấy đầu tư cổ phiếu của mình. Và cùng tiến với nó.

Nguồn: Ibbotson Encorr, National Bureau of Economic Research, Fidelity Investments, 1998.

7.
Đáp án: A. Nhà đầutư cổ phiếu nhận được phần thưởng lớn trong suốt thập niên 1949-1959 khi mà S&P 500 đem lại lợi nhuận trung bình hàng năm là 21.4% từ tháng 6, 1949 đến tháng 5, 1959. Nền kinh tế phát triển nhanh vào thập niên 1950, trong khi lạm phát và lãi suất đều giữ ở mức thấp. Giá cổ phiếu rẻ, vào đầuthập niên, S&P 500 bán với P/E chỉ có 6. (Lo sợ một cuộc khủng hoảnh 1929-1939 lặp lại, nhiều nhà đầu tư không còn tin tưởng vào cổ phiếu và tránh xa chúng. Kết quả là cổ phiếu của những công ty lớn chỉ bán với giá gấp 6 lần lợi nhuận. chỉ bằng một nửa giá thông thường.)

Đây quả là sự kết hợp như mơ: nền kinh tế ổn định, lạm phát và lãi suất thấp, và giá cổ phiếu hời. $1,000 đầu tư tháng 6, 1949 tăng lên khoảng $6,970 vào tháng 5, 1959! Múc này cao hơn nhiều so với 10 năm 1988-1997, khi lợi nhuận bình qua6nha2ng năm là 18.9% ($1,000 tăng lên khoảng $5,670).

Những sự kiện chính của thập niên 6/1949-5/1959: xây dựng sau chiến tranh bùng nổ, giá cả hàng hóa cơ bản (commodities) cao hơn, việc làm bắt đầu trọng hệ thống liên bang, chiến tranh Korea War, khởi đầu chiến tranh lạnh. Lạm phát trung bình ở mức thấp 2%, trong khi sản lượng công nghiệp tăng gần 6%.

Nguồn: Ibbotson Encorr, Haver Analytics, DRI, Fidelity Investments, 1998.

8.
Đáp án: D. 3.0%. Trái phiếu đã tăng trưởng tốt khi thị trường cổ phiếu đổ vỡ -- thêm một lý do để nắm giữ chúng.
Tháng 10, 1987, được viết trong sách giáo khoa là ví dụ của "flight to quality" (bay đi tìm chất lượng) khi mà những nhà đầu tư sợ hãi tìm chỗ trú chân trong những trái phiếu và  Treasury bills. Trái phiếu trở nên có giá trị hơn sau khi Fed giảm lãi suất xuống mức để tạo "thanh khoản" cho hệ thống ngân hàng. Tổng lợi nhuận đầu tư trái phiếu chính phủ dài hạn tháng đó là 6.2%.

Nguồn: Ibbotson Encorr, Fidelity Investments, 1998.

9.
Đáp án: A. Đúng. Công ty nhỏ lãi 12.7%/năm từ 1926 đến 1997, trong khi cổ phiếu cty lớn hơn lời có 11%. Tại sao cổ phiểu nhỏ (cổ phiếu cty nhỏ) lại tốt hơn? Những cỗ máy tài chính như Wal-Mart, Home Depot, Intel, và Microsoft khởi nghiệp từ những công ty nhỏ, rồi sau đó tăng dần lợi nhuận không ngừng cho đến khi họ trở thành những công ty lớn. Nhà đầu tư thamgia ngay từ đầu có thể được lợi từ 10, 20, thậm chí 100 lần. Đầu tư vào những công ty nhỏ thì mạo hiểm hơn đầu tư vào những cty lớn, bởi vì công ty nhỏ dễ bị tác động bời trì trệ kinh tế và giá cổ phiếu lên xuống rất mạnh.

Nguồn: Ibbotson Encorr, Fidelity Investments, 1998.
Những cty được nhắc tên chỉ là mục đích tham khảo, và không được xem là khuyến cáo, hay khuyến nghị nên đầu tư.


10.
Đáp án: E. Tất cả những nước trên. Mọi thị trườn nước ngoài kể trên để tăng trưởng tốt hơn, tính bằng dollars, thị trường Mỹ từ 31/12/1982 tới 31/12/1997. Nước tăng cao nhất là Netherlands (Hà Lan)
$1,000 đầu tư năm 1982 tăng lên $23,346 năm 1997.

Một vài thập niên sẽ tốt hơn(so với thập niên khác) đối với cổ phiếu quốc tế, nhưng nhà đầu tư dài hạn cũng nên suy xét chuyển dịch một phần tài sản ra nước ngoài. Bằng cách phân bổ 15% trong danh mục đầu tư của mình cho cổ phiếu quốc tế từ 1970-1997, bạn sẽ giảm biến động giá mà không sợ giảm lợi nhuận.

Luôn nhớ rằng cổ phiếu quốc tế không phải lúc nào cũng đi lên. Chúng cũng có điều chỉnh và thị trường con bò hệt như thị trường trong nước, Từ đỉnh 1989 tới 4/1998, thị trường Nhật Bản  giảm hơn 50%. Nếu bạn đầu tư vào đó, dù bạn là người Nhật hay Mỹ, bạn cũng mất tiền. Nước Italy cũng mất gần 50% từ 1990-1992. Trong năm ngoái, Singpaore và Hong Kong giảm 50%, còn Malaysia rớt gần 75%.

Những thị trường mới nổi càng nhỏ thì lại càng thấy rủi ro cho nhà đầu tư hơn thị trường phát triển lớn hơn. Lựa chọn những nước tốt nhất không phải chuyện dễ, đó cũng là lý do tại sao tốt nhất nên đa dạng hóa danh mục đầu tư ở thị trường quốc tế.

Đầu tư nước ngoài sẽ có rủi ro lớn hơn ở Mỹ, gồm cả rủi ro về chính trí, kinh tế, và cả rùi ro về biến động tỷ giá ngoại tệ.

Nguồn: Morgan Stanley Capital International, Fidelity Investments, 1998.

Thứ Năm, 15 tháng 10, 2009

Việt Nam và Thị trường mới nổi (Emerging markets)

Theo dõi thông tin về VN-Index tăng điểm trong thời gian gần đây, tôi thấy cũng có ý kiến rằng có thể giữ mốc trong bao lâu. Tôi thử so sánh giữa việt Nam và các thị trường mới nổi (emerging markets)

Việt Nam có phải là thị trường mới nổi không?

Theo cách định nghĩa chung chung thì việt Nam thường được coi là thị trường mới nổi. Những bài báo nước ngoài về Việt Nam cũng xếp Việt Nam vào chung nhóm này. Tuy vậy, trong xếp loại của một vài tổ chức thì không thấy tên Việt Nam trong nhóm nước mới nổi:
- Trong FTSE emerging markets list có 22 nước gồm cả Thailand, Indonesia, Malaysia, Philippines (năm 2010 có thêm United Arab Emirates) nhưng không có Việt Nam.
- Trong MSCI list của MSCI Barra cũng có 22 nước, cũng có Thailand, Indonesia, Malaysia, Philippines nhưng không có Việt Nam.
- Còn danh sách của The Economist có thêm 3 nước nữa nhưng không phải Việt Nam.

Gross National Income (GNI) của Việt Nam năm 2007 là $790.0 được World Bank xếp vào nhóm middle income, nhưng chỉ nhỉnh hơn nhóm low-income một chút. Có lẽ vì vậy mà người ta chưa xem xét đến Việt Nam.
Cũng nói thêm là một số nước hiện còn trong nhóm emerging markets như South Korea, China, India, Taiwan đã khá phát triển và người ta đang nghĩ gỡ bỏ thuật ngữ "emerging markets".

VN-Index và MSCI Emerging Markets Index

VN-Index thể hiện performance của thị trường chứng khoán Việt Nam. Còn MSCI Emerging Markets Index đo performance của các thị trường mới nổi.


Source: Bloomberg.

Nếu ta nhìn biểu đố thì sẽ thấy ở thị trường chứng khoán Việt Nam đã trải qua thời kỳ quá nóng, thèo cách nói của Alan Greenspan là "irrational exuberance". Nếu so với MSCI Emerging Markets Index thì từ đầu năm 2007 đến 2008, VN-Index đã vượt quá mức cho đến khi sụt giảm cùng với khủng hoảng kinh tế.
Biều đồ lấy mốc 10/2004, theo đó thì hiện tại VN-Index hơi nóng một chút, nhưng nếu lấy mốc 10/2006 lúc thị trường chưa quá sốt thì hiện tại VN-Index cũng đang theo sát MSCI. Theo tôi thì perfomance như vậy là không bất thường.

Thứ Hai, 7 tháng 9, 2009

Chứng Khoán Việt Nam



Chi tiết
HSX
Mã CK  T. Chiếu    Giá      K.Lượng Tăng/Giảm

HNX
Mã CK  T. Chiếu    Giá      K.Lượng Tăng/Giảm


Nguồn cập nhật: Stoxplus, VnExpress

Thứ Bảy, 4 tháng 7, 2009

Bull Trap - Bear Trap

Bull Trap

Một dấu hiệu giả cho thấy cổ phiếu (hoặc một loại chứng khoán, chỉ số index) đang đổi chiều và đi lên, nhưng thực tế cổ phiếu tiếp tục đi xuống sau khi các dấu hiệu này chấm dứt. Đây được coi là một cái bẫy bởi vì người ta thấy những dấu hiệu đi lên này sẽ mua cổ phiếu hy vọng kiếm lời từ việc cổ phiếu đi lên, nhưng họ bị "mắc bẫy" với khoản đầu tư của mình khi nhận ra giá vẫn đi xuống.
Tạm dịch là "bẫy lên", "bẫy tăng giá" hay "bẫy phục hồi".

Nhận biết bull trap (chỉ mang tính tham khảo)

1. Thị trường thường di chuyển theo những xu hướng và phản ánh suy nghĩ của nhóm nhà nhà đầu tư. Thị trường không đảo chiều trong ngày một mà những yếu tố cơ bản cần thời gian và lý do để thay đổi. Nên sẽ có một vài bước tiến trước khi đảo chiều

2. Việc điều chỉnh được thấy trước khi thị trường dịch chuyển quá mạnh. Khi đó nhà đầu tư chốt lời hoặc cắt lỗ. Và việc điều chỉnh này có thể hình thành một bull trap (hoặc bear trap)
Ví dụ: khi nhà đầu tư cơ bản tận dụng giá rẻ để mua thêm cổ phiếu, có thể sẽ tạo ra một sóng nhỏ đi lên, nhưng thị trường có thể tiếp tục lại đi xuống.

3. Trong khủng hoảng, một số tin tức tốt vẫn có thể xuất hiện. Tuy nhiên những vấn đề về khủng hoảng không thể giải quyết trong ngày một nên những tin tức tốt kia có thể tạo ra những cái bẫy.

Bear Trap

Trái ngược với bull trap là bear trap (tạm dịch là bẫy xuống, bẫy giảm giá). Bear trap là tình hình mà mà thị trường vẫn tiếp tục chiều đi lên mà những nhà đầu tư thấy một dấu hiệu đi xuống và nghĩ rằng thị trường đang đi xuống. Nhà đầu tư sẽ bán khống để hy vọng kiếm lời nhưng cuối cùng phải mua với giá cao và chấp nhận lỗ.

Ở Việt Nam không (hoặc chưa) cho bán khống nên bear trap không có ý nghĩa lắm.

Thứ Ba, 9 tháng 6, 2009

Chứng Khoán Quốc Tế

Các chỉ số chứng khoán quốc tế cập nhật liên tục.



Refresh lại trang này nếu bảng các chỉ số chứng khoán không hiện ra.

Thứ Ba, 12 tháng 5, 2009

Danh Sách Công Ty Niêm Yết Chứng Khoán

Dánh sách công ty niếm yết chứng khoán trên sàn tp Hồ Chí Minh

http://www.hsx.vn/hsx/Modules/Danhsach/Chungkhoan.aspx

Dánh sách công ty niếm yết chứng khoán trên sàn Hà Nội

http://hnx.vn/danhsach_TCDKGD.asp?actType=1&menuup=402000&TypeGrp=1&menuid=114120&menulink=114120&menupage=danhsach_TCDKGD.asp&stocktype=2

Xem thêm:
Sàn HCM:
Niêm yết chứng chỉ quỹ
http://www.hsx.vn/hsx/Modules/Danhsach/ChungChiQuy.aspx
Sàn Hà Nội
Trái phiếu chính phủ
http://bond.hnx.vn/default.aspx?tabIndex=0&tabid=35


Cập nhật 8/11/2009:
Trên trang web sở GDCK Hà Nội, các báo cáo tài chính được chia thành từng loại, tuy nhiên, các các báo ờ đây không được cập nhật.
Còn ở trang web sở GDCK tp HCM, báo cáo được cập nhật và thường trong một file PDF.