Một số thông tin về Dubai và Dubai World:
Dubai là một trong 7 thành phố-bang của United Arab Emirates (Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất). Mỗi bang có ngân sách, quy tắc riêng, còn vấn đề đối ngoại, an ninh, dân cư thì chung.
Abu Dhabi, là thành phố lớn nhất, và là thủ đô của liên bang này. Abu Dhabi chiếm phần lớn dầu mỏ của UAE. Abu Dhabi có quỹ souvereign wealth fund lớn nhất thế giới.
Dubai thì phát triển kinh tế về cảng biển, giao thương, dịch vụ tài chính, và đặc biệt thập kỷ vừa qua bất động sản và du lịch tăng nhanh chóng.
Dubai World là công ty nhà nước, sở hữu DP World quản lý cảng biển, Nakheel quản lý đầu tư bất động sản, hàng hàng không Emirates Airlines, khách sạn Jumeirah Hotel.
Dubai World củng sở hữu Limitless và Economic Zones World, các công ty phát triển bất động sản. Trong mảng tài chính, Dubai World sở hữu Istithmar chuyên về mảng alternative investment. Dubai World cũng là chủ của Dubai Natural Resources World, chuyên đầu tư vào tài nguyên thiên nhiên như năng lượng, khai khoáng, kim loại, và sản phẩm nông nghiệp, gồm luôn cả liên doanh dầu khí ở Nga và Nigeria.
Dubai World cũng nắm nhiều cổ phần trong các công ty trên thế giới, gồm cả London Stock Exchange. Nhưng các ông ty này thiếu tính minh bạch vì sở hữu gia đình.
Khi thị trường bất động sản sập ở Mỹ thì Nakheel cũng mất 50% giá trị, tuy nhiên các nhà đầu tư không sợ default risk vì cho rằng đây là công ty nhà nước.
Các nhà phân tích cho rằng trong nỗ lực giải cứu kích thích kinh tế, Dubai nợ khoảng $80 billion (một số nói con số này có thể gấp đôi). Dubai World để hộ trợ kinh tế có một khoản liabilities là $60 billion. Vấn đề chính là ở Nakheel, chi nhánh bất động sản này có lượng trái phiếu khổng lồ sắp đáo hạn, gần nhất là Trái phiếu hồi giáo Islamic bond trị giá $3.5 billion vào tháng 12.
Người ta cho rằng các khoản giải cứu này được hỗ trợ bởi Abu Dhabi, nhưng ngày 25/11 Chính phủ Dubai xin giãn nợ 6 tháng.
Abu Dhabi thông qua ngân hàng trung ương liên bang đã mua $10 billion trái phiếu chính phủ Dubai và mới đây qua các ngân hàng riêng mua thêm $5 billion.
Theo Bank of International Settlements, các ngân hàng nước ngoài đã cho United Arab Emirates vay $123 billion (trong đó chia theo quốc gia, các ngân hàng Anh là $50.2 billion, Pháp $11.3 billion, Đức $10 billion).
Hiện diện của Dubai World ở Việt Nam là tổ hợp khách sạn Ha Long Star và khu đô thị hỗn hợp Đầm Nhà Mạc do công ty con Limitless đảm nhận.
Hiển thị các bài đăng có nhãn tài chính quốc tế. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tài chính quốc tế. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Bảy, 28 tháng 11, 2009
Thứ Ba, 24 tháng 11, 2009
In Tiền
Trước đây, khi được hỏi về chuyện liệu Việt Nam có thiếu tiền đồng và có thể ổn định tỷ giá USD/VND hay không, Tiến sỹ Phó Thống đốc Phùng Khắc Kế nói “Tôi có thể khẳng định là chúng ta không sợ thiếu tiền đồng vì chúng ta in được!”. Câu nói trên trở thành đề tài đàm tiếu trong những người làm việc liên quan đến tài chính.
Trái phiếu chính phủ từ nhiều thập kỉ trở lại đây luôn giữ được tính thanh khoản ngay cả trong suy thoái. Các loại nợ quốc gia (soverign debt) này luôn được coi là siêu an toàn, an toàn đến mức được gọi là lãi suất không rủi ro.
Tuy nhiên các loại nợ chính phủ này ngày càng tăng không chỉ ở Mỹ (hiện trên $12 trillion) hay Anh (tháng 10 £829.7 billion) mà rất nhiều nước gồm cả các nước phương Tây khác do gánh nặng thâm hụt ngân sách. Khi các chính phủ cần tiền, họ lại phát hành trái phiếu, nguồn thu ngân sách không đủ thì lại phát hành thêm trái phiếu. Thậm chí có người so sánh việc các chính phủ phát hành trái phiếu cũng giống một kế hoạch Ponzi.

(Budget và debt của UK, nguồn ONS)
Một cuộc khủng hoảng về các loại nợ chính phủ có thể là quá lời, nhưng có thể hình dung một vài nước sẽ tăng yield của các trái phiếu, các giá các trái phiếu này cũng sẽ giảm, và một số có thể sẽ hạ giá đồng nội tệ. In tiền là việc ít khi các ngân hàng trung ương làm nhưng không loại trừ khả năng này khi tính thanh khoản của các trái phiếu chính phủ quá thấp mà nền kinh tế vẫn chìm trong suy thoái.
In tiền là việc bán trái phiếu chính phủ cho ngân hàng trung ương. Nó khác với việc ngân hàng trung ương thuê một công ty in tiền (như tiền polymer ở Việt Nam).
Trái phiếu chính phủ từ nhiều thập kỉ trở lại đây luôn giữ được tính thanh khoản ngay cả trong suy thoái. Các loại nợ quốc gia (soverign debt) này luôn được coi là siêu an toàn, an toàn đến mức được gọi là lãi suất không rủi ro.
Tuy nhiên các loại nợ chính phủ này ngày càng tăng không chỉ ở Mỹ (hiện trên $12 trillion) hay Anh (tháng 10 £829.7 billion) mà rất nhiều nước gồm cả các nước phương Tây khác do gánh nặng thâm hụt ngân sách. Khi các chính phủ cần tiền, họ lại phát hành trái phiếu, nguồn thu ngân sách không đủ thì lại phát hành thêm trái phiếu. Thậm chí có người so sánh việc các chính phủ phát hành trái phiếu cũng giống một kế hoạch Ponzi.
(Budget và debt của UK, nguồn ONS)
Một cuộc khủng hoảng về các loại nợ chính phủ có thể là quá lời, nhưng có thể hình dung một vài nước sẽ tăng yield của các trái phiếu, các giá các trái phiếu này cũng sẽ giảm, và một số có thể sẽ hạ giá đồng nội tệ. In tiền là việc ít khi các ngân hàng trung ương làm nhưng không loại trừ khả năng này khi tính thanh khoản của các trái phiếu chính phủ quá thấp mà nền kinh tế vẫn chìm trong suy thoái.
Thứ Bảy, 7 tháng 11, 2009
Mức Độ Tin Cậy Của Credit Rating Agencies
Một đề tài cũng xuất hiện khá lâu kể từ khi chuyện thế chấp nhà đất vỡ nợ ở Mỹ đó là chất lượng của các tồ chức xếp hạng tín nhiệm có đáng tin hay không. Trên các báo người ta luôn chất vấn về uy tín của các hãng Moody's hay Fitch Ratings hay Standard & Poor. Tôi có người bạn làm ở bộ phận fixed income tronng một equity growth fund ở Việt Nam cũng phàn nàn về hệ thống tài chính ở Mỹ. Khi nói về các hãng xếp hạng, bạn tôi cũng nói chắc phải xếp hạng những cty credit rating là FFF. Chuyện này cũng không ngạc nhiên lắm vì tôi cũng thấy nhiều trên các ấn phẩm tài chính đặc biệc là các tờ báo đều đưa ra những cái tiêu đề kiểu FFF như vậy. Nhưng ta cũng phải xem xét kỹ thế nào, bởi vì tôi thấy trong những nhận xét như vậy có nhiều yếu tố cảm xúc, và có thể nhận xét của họ là không công bằng (biased).
Ta xem lại hệ thống thị trường trái phiếu ở Mỹ.
Thị trường trái phiếu bao gồm rất nhiều nhà phát hành issuers và nhiều loại chứng khoán. Nói cụ thể thì rất là dài vì chắc cũng phải vài cuốn text book. Vậy ta xem những phân loại chính:
- U.S. Treasuries: loại trái phiếu do Bộ Ngân khố Mỹ phát hành (US Department of the Treasury)
- Corporate Bonds: trái phiếu do các tập đoàn và có mức xếp hàng tín nhiệm "investment"
- High-Yield Bonds: Còn gọi là trái phiếu "non-investment" hay "junk bonds" tức là dưới mức co thể coi là đầu tư được.
- Mortgage-Backed Securities (MBS): loại trái phiếu được tổng hợp từ dòng tiền của tiến gốc (principal) và lãi (interest) từ một nhóm/gói những khoản vay thế chấp mua nhà ở.
- Asset-Backed Securities (ABS): trái phiếu này tổng hợp bằng dòng tiền từ một nhóm/gói tài sản như vay mua ô tô, các khoản thu từ thẻ tín nhiệm, home equity loans (khoản vay mà lấy nhà ra để thế chấp), thuê máy bay, v.vv.. Danh sách những tài sản có thể chứng khoán hóa vào trong ABS thì còn dài nữa, hầu như chưa có kết thúc vì người ta có thể nghĩa ra nhiều thứ thêm vào.
- Agency Bonds: chứng khoán nợ này do các doanh nghiệp chính phủ tài trợ government-sponsored enterprises (GSEs) phát hành, bao gồm Fannie Mae, Freddie Mac và the Federal Home Loan Banks.
- Municipal Bonds (Munis): trái phiếu đô thị do một bang, thành phố hay chính quyền địa phươnh phát hành.
- Collateralized Debt Obligations (CDOs): loại chứng khoán ABS được tổng hợp từ bất kỳ loại ABS, MBS, trái phiếu hay khoản vay nào đó.
Tôi đồng ý với ý kiến cho rằng các credit rating agencies làm tốt (hoặc tương đối tốt) khi định giá các loại trái phiếu đơn thuần (plain-vanilla bonds), còn các loại chứng khoán tồng hợp phức tạp trên thì khó có thể gọi là tốt. Do mức độ phức tạp, tôi nghĩ các hãng tín nhiệm chỉ đánh giá được một vài tiêu chí, trong khi rủi ro của các loại chứng khoán tổng hợp kia còn phụ thuộc vào các loại tài sản đứng sau. Tôi nghĩ họ không thể hiểu rõ từng prepayment risk và default risk của từng tài sản riêng rẽ, đặc biệ là khi các loại chứng khoán tổng hợp lại gồm cả hàng ngàn dòng tiên của những tài sản trong gói. Có một quan niệm cho rằng khi mà số lượng các tài sản lớn như vậy thì có thể là giảm default risk, giống như giảm thiểu rủi ro bằng cách đa dạng hóa danh mục đầu tư. Tôi không đồng ý với quan niệm này bởi nó xuất phát từ quan niệm cho rằng nếu một tài sản trong gói bị mất khả năng thanh toán, thì dòng tiền của những tài sản khác sẽ bù lại. Nghe có vẻ hợp lý, nhưng nếu phần lớn các tài sản trong gói đều mất khả năng thanh toán thì sao?
Bởi vậy khi xày ra bong bóng nhà đất, người ta dễ dàng phản ứng gay gắt khi mà các loại bonds của Lehman Brothers có mức tín nhiệm cao. Các CDOs mà được xếp hạng AAA thì rõ ràng mức uy tín của Moody’s, Standard & Poor’s và Fitch không còn được đánh giá cao nữa.
Các lãnh đạo của các hãng này giải thích về sai lệch của mình trong đánh giá các mortgage-backed securities là do không lường trước được sự sụt giảm nhanh của giá nhà, hay hậu quả kéo theo là môi trường cho vay giới hạn, và bởi vì những dữ liệu quá khứ, và những nhận định mà mà các mức xếp hạng dựa theo đã không ước lượng được rủi ro.
Một vấn đề đặt ra là cải tổ các hãng xếp hạng tín nhiệm. Tôi nghĩ họ cần nghiên cứu kỹ các tiêu chí đánh giá của mình lại.

Ảnh minh họa: Tháng 1-2009, vay thế chấp, người thu nhập thấp có tỉ lệ default cao, cao nhất là nhóm dưới $30,000/năm, trong khi họ chiếm 20% tổng số gia đình.
Ta xem lại hệ thống thị trường trái phiếu ở Mỹ.
Thị trường trái phiếu bao gồm rất nhiều nhà phát hành issuers và nhiều loại chứng khoán. Nói cụ thể thì rất là dài vì chắc cũng phải vài cuốn text book. Vậy ta xem những phân loại chính:
- U.S. Treasuries: loại trái phiếu do Bộ Ngân khố Mỹ phát hành (US Department of the Treasury)
- Corporate Bonds: trái phiếu do các tập đoàn và có mức xếp hàng tín nhiệm "investment"
- High-Yield Bonds: Còn gọi là trái phiếu "non-investment" hay "junk bonds" tức là dưới mức co thể coi là đầu tư được.
- Mortgage-Backed Securities (MBS): loại trái phiếu được tổng hợp từ dòng tiền của tiến gốc (principal) và lãi (interest) từ một nhóm/gói những khoản vay thế chấp mua nhà ở.
- Asset-Backed Securities (ABS): trái phiếu này tổng hợp bằng dòng tiền từ một nhóm/gói tài sản như vay mua ô tô, các khoản thu từ thẻ tín nhiệm, home equity loans (khoản vay mà lấy nhà ra để thế chấp), thuê máy bay, v.vv.. Danh sách những tài sản có thể chứng khoán hóa vào trong ABS thì còn dài nữa, hầu như chưa có kết thúc vì người ta có thể nghĩa ra nhiều thứ thêm vào.
- Agency Bonds: chứng khoán nợ này do các doanh nghiệp chính phủ tài trợ government-sponsored enterprises (GSEs) phát hành, bao gồm Fannie Mae, Freddie Mac và the Federal Home Loan Banks.
- Municipal Bonds (Munis): trái phiếu đô thị do một bang, thành phố hay chính quyền địa phươnh phát hành.
- Collateralized Debt Obligations (CDOs): loại chứng khoán ABS được tổng hợp từ bất kỳ loại ABS, MBS, trái phiếu hay khoản vay nào đó.
Tôi đồng ý với ý kiến cho rằng các credit rating agencies làm tốt (hoặc tương đối tốt) khi định giá các loại trái phiếu đơn thuần (plain-vanilla bonds), còn các loại chứng khoán tồng hợp phức tạp trên thì khó có thể gọi là tốt. Do mức độ phức tạp, tôi nghĩ các hãng tín nhiệm chỉ đánh giá được một vài tiêu chí, trong khi rủi ro của các loại chứng khoán tổng hợp kia còn phụ thuộc vào các loại tài sản đứng sau. Tôi nghĩ họ không thể hiểu rõ từng prepayment risk và default risk của từng tài sản riêng rẽ, đặc biệ là khi các loại chứng khoán tổng hợp lại gồm cả hàng ngàn dòng tiên của những tài sản trong gói. Có một quan niệm cho rằng khi mà số lượng các tài sản lớn như vậy thì có thể là giảm default risk, giống như giảm thiểu rủi ro bằng cách đa dạng hóa danh mục đầu tư. Tôi không đồng ý với quan niệm này bởi nó xuất phát từ quan niệm cho rằng nếu một tài sản trong gói bị mất khả năng thanh toán, thì dòng tiền của những tài sản khác sẽ bù lại. Nghe có vẻ hợp lý, nhưng nếu phần lớn các tài sản trong gói đều mất khả năng thanh toán thì sao?
Bởi vậy khi xày ra bong bóng nhà đất, người ta dễ dàng phản ứng gay gắt khi mà các loại bonds của Lehman Brothers có mức tín nhiệm cao. Các CDOs mà được xếp hạng AAA thì rõ ràng mức uy tín của Moody’s, Standard & Poor’s và Fitch không còn được đánh giá cao nữa.
Các lãnh đạo của các hãng này giải thích về sai lệch của mình trong đánh giá các mortgage-backed securities là do không lường trước được sự sụt giảm nhanh của giá nhà, hay hậu quả kéo theo là môi trường cho vay giới hạn, và bởi vì những dữ liệu quá khứ, và những nhận định mà mà các mức xếp hạng dựa theo đã không ước lượng được rủi ro.
Một vấn đề đặt ra là cải tổ các hãng xếp hạng tín nhiệm. Tôi nghĩ họ cần nghiên cứu kỹ các tiêu chí đánh giá của mình lại.
Ảnh minh họa: Tháng 1-2009, vay thế chấp, người thu nhập thấp có tỉ lệ default cao, cao nhất là nhóm dưới $30,000/năm, trong khi họ chiếm 20% tổng số gia đình.
Thứ Ba, 3 tháng 11, 2009
Đầu Tư Vào Thị Trường Mới Nổi
Trên Pensions & Investments, có bài viết của Thao Hua về đầu tư pension fund ở thị trường mới nổi, trong đó có một vài thông tin lưu ý:
Thị trường mới nổi hiện chiếm 12% trong MSCI All Country World index (theo dõi cả nước phát triển và đang phát triển), so với đầu thập niên thì chỉ chiếm có 5%.
Còn dựa trên GDP, thì các nền kinh tế mới nổi chiếm 35% kinh tế toàn cầu. Theo báo cáo World Economic Outlook tháng 10 của International Monetary Fund, real GDP growth của thị trường nổi ước tính sẽ tăng lên 5% trong 2010, (so vớ 1.75% trong 2009), chủ yếu bởi tác động của Trung Quốc, Ấn Độ vả Brazil. Trong khi Mỹ là 1.9%, Nhật Bản 1.4 còn các nước phát triển trong Eurozone chỉ là 0.9%.

Trong bài viết về pension fund của Thao Hua, có nhiều thông tin về các quỹ cùng các khoản đầu tư và ghi nhận rất nhiều ý kiến của các giám đốc quản lý quỹ. Nhìn chung, lý do chính để đầu tư là: GDP tăng trưởng cao; ít chịu tác động từ khủng hoảng ngân hàng. Ngoài ra, cò có năng suất lao động, gia tăng dân số và thu nhập khả dụng thực tế (discretionary income).
Khủng hoảng tài chính đã thách thức những nhận định lâu đời trước đây khi nói về đầu tư ở các nước đang phát triển, bao gồm biên độ dao động, trở ngại về tính thanh khoản, và khả năng chống chịu sụt giảm kinh tế toàn cầu. Cho đến nay, thị trường mới nổi đã tăng trưởng tốt hơn nhiều so với những nền kinh tế chính trong việc chống chọi bão tài chính và hiện đang hút đầu tư với một tốc độ kỷ lục.

Chỉ số Morgan Stanley Capital International Emerging Markets index đã leo lên 7.2% kể từ khi Lehman Brothers tuyên bố phá sản. Trong khi đó, Russell 3000 index sụt giảm 11%, còn MSCI World Index (theo dõi cổ phiếu ở thị trường phát trển) giảm 9.6%.
Những ý kiến quan ngại thường là việc đánh giá thị trường mới nổi khổng phải hoàn toàn rẻ; thị trường mới nổi phát triển quá nhanh, mức dao động lớn; hay ở một số nước như Trung Quốc thì nhà đầu tư tổ chức nước ngoài bị giới hạn tỉ trọng. Và những công ty lớn trong các thị trường mới nổi thường chịu tác động của xu thế toàn cầu hơn là sự phát triển của thị trường nội địa.
Thị trường mới nổi hiện chiếm 12% trong MSCI All Country World index (theo dõi cả nước phát triển và đang phát triển), so với đầu thập niên thì chỉ chiếm có 5%.
Còn dựa trên GDP, thì các nền kinh tế mới nổi chiếm 35% kinh tế toàn cầu. Theo báo cáo World Economic Outlook tháng 10 của International Monetary Fund, real GDP growth của thị trường nổi ước tính sẽ tăng lên 5% trong 2010, (so vớ 1.75% trong 2009), chủ yếu bởi tác động của Trung Quốc, Ấn Độ vả Brazil. Trong khi Mỹ là 1.9%, Nhật Bản 1.4 còn các nước phát triển trong Eurozone chỉ là 0.9%.
Trong bài viết về pension fund của Thao Hua, có nhiều thông tin về các quỹ cùng các khoản đầu tư và ghi nhận rất nhiều ý kiến của các giám đốc quản lý quỹ. Nhìn chung, lý do chính để đầu tư là: GDP tăng trưởng cao; ít chịu tác động từ khủng hoảng ngân hàng. Ngoài ra, cò có năng suất lao động, gia tăng dân số và thu nhập khả dụng thực tế (discretionary income).
Khủng hoảng tài chính đã thách thức những nhận định lâu đời trước đây khi nói về đầu tư ở các nước đang phát triển, bao gồm biên độ dao động, trở ngại về tính thanh khoản, và khả năng chống chịu sụt giảm kinh tế toàn cầu. Cho đến nay, thị trường mới nổi đã tăng trưởng tốt hơn nhiều so với những nền kinh tế chính trong việc chống chọi bão tài chính và hiện đang hút đầu tư với một tốc độ kỷ lục.
Chỉ số Morgan Stanley Capital International Emerging Markets index đã leo lên 7.2% kể từ khi Lehman Brothers tuyên bố phá sản. Trong khi đó, Russell 3000 index sụt giảm 11%, còn MSCI World Index (theo dõi cổ phiếu ở thị trường phát trển) giảm 9.6%.
Những ý kiến quan ngại thường là việc đánh giá thị trường mới nổi khổng phải hoàn toàn rẻ; thị trường mới nổi phát triển quá nhanh, mức dao động lớn; hay ở một số nước như Trung Quốc thì nhà đầu tư tổ chức nước ngoài bị giới hạn tỉ trọng. Và những công ty lớn trong các thị trường mới nổi thường chịu tác động của xu thế toàn cầu hơn là sự phát triển của thị trường nội địa.
Jim Rogers Cảnh Báo Khủng Hoảng Tiền Tệ
14/9/2009, Jim Rogers, nhà đầu tư huyền thoại, đồng sáng lập Quantum Fund với George Soros, đã nói với CNBC rằng những điều tồi tệ nhất của khủng hoảng kinh tế chưa chấm dứt và một cuộc khủng hoảng về tiền tệ có thể xảy ra trong năm nay hoặc năm tới, bởi vì vấn đề có quá nhiều nợ trong hệ thống chưa được giải quyết..

CEO của Rogers Holdings cũng nói thêm rằng ông dự báo sẽ có cuộc khủng hoảng tiền tệ hoặc bán khủng hoảng trong mùa thu này hoặc năm tới. Ông cũng nói Ben Barnanke và Alan Greenspan mang "crony capitalism" (tạm dịch là tư bản chủ nghĩa thân hữu - giữa nhà nước và doanh nghiệp) nhưng cũng sẽ không giải quyết vấn đề của thế giới.
Có vẻ như mùa thu đang qua đi mà chưa thấy rõ khủng hoảng tiền tệ nào.
2/11/2009, Jim Rogers tái khẳng định nhận định của mình trong một cuộc phỏng vấn với Financial Times nhưng có chút thay đổi. Rogers nói “I do expect [a] currency crisis or semi-crisis in the next year or two because there are so many imbalances in the world.” Như vậy, ông vẫn cảnh báo về một cuộc khoảng hay bán khủng hoảng trong một hoặc hai năm tới.
Jim Rogers cũng đầu tư vào cổ phiếu ở Trung Quốc từ cuối thập niên 1990 nhưng ông khẳng định là chưa bán cổ phiếu nào dù năm nay cổ phiếu Trung Quốc tăng mạnh.
Mỹ là con nợ lớn nhất thế giới, nên những cảnh báo của Rogers tôi nghĩ rất đáng lưu tâm nhưng media effect cũng có thể thay đổi ít nhiều đến dự đoán này vì đây không phải là những lần duy nhất Jim Rogers cảnh báo trong năm nay.
CEO của Rogers Holdings cũng nói thêm rằng ông dự báo sẽ có cuộc khủng hoảng tiền tệ hoặc bán khủng hoảng trong mùa thu này hoặc năm tới. Ông cũng nói Ben Barnanke và Alan Greenspan mang "crony capitalism" (tạm dịch là tư bản chủ nghĩa thân hữu - giữa nhà nước và doanh nghiệp) nhưng cũng sẽ không giải quyết vấn đề của thế giới.
Có vẻ như mùa thu đang qua đi mà chưa thấy rõ khủng hoảng tiền tệ nào.
2/11/2009, Jim Rogers tái khẳng định nhận định của mình trong một cuộc phỏng vấn với Financial Times nhưng có chút thay đổi. Rogers nói “I do expect [a] currency crisis or semi-crisis in the next year or two because there are so many imbalances in the world.” Như vậy, ông vẫn cảnh báo về một cuộc khoảng hay bán khủng hoảng trong một hoặc hai năm tới.
Jim Rogers cũng đầu tư vào cổ phiếu ở Trung Quốc từ cuối thập niên 1990 nhưng ông khẳng định là chưa bán cổ phiếu nào dù năm nay cổ phiếu Trung Quốc tăng mạnh.
Mỹ là con nợ lớn nhất thế giới, nên những cảnh báo của Rogers tôi nghĩ rất đáng lưu tâm nhưng media effect cũng có thể thay đổi ít nhiều đến dự đoán này vì đây không phải là những lần duy nhất Jim Rogers cảnh báo trong năm nay.
Thứ Sáu, 25 tháng 9, 2009
Top 100 Global Venture Capitalists
Red Herring lần đầu công bố danh sách Top 100 công ty đầu tư mạo hiểm toàn cầu (Global Venture Capitalists) của mình.
Năm 2007-2009 là khoảng thời gian đen tối không chỉ cho các limited partnerships quản lý lượng tiền khổng lồ. Top 100 Global Venture Capitalists là những cty tốt nhất trong nhóm, lựa chọn từ danh sách 1.800 cty.
Việc đánh giá dựa trên nhiều benchmarks như Red Herring đánh giá cao các cty vượt mực lợi nhuận trung bình và xây dựng các công ty từ nền móng ở góc độ toàn cầu. Red Herring cũng đánh giá cao đội ngũ chuyển giao tốt từ thế hệ này qua thế hệ khác. Ngoài ra, Red Herring cũng đánh giá cao cty được các nhà khởi nghiệp đánh giá tốt vì tư vấn và trợ giúp.
Top 100 Global Venture Capitalists
01. Accel Partners
02. Softbank
03. Index Ventures
04. Sequoia Capital
05. Kleiner Perkins Caufield & Byers
06. DCM
07. Insight Venture Partners
08. Draper Fisher Jurveston
09. Sofinnova Partners
10. Matrix Partners
11. New Enterprise Associates
12. Bessemer Venture Capital
13. Greylock Partners
14. Wellington Partners
15. Khosla Ventures
16. Norwest Venture Partners
17. Benchmark Capital
18. TVM Capital
19. Battery Ventures
20. Lightspeed Venture Capital
21. August Capital
22. Pitango Venture Capital
23. GRP Partners
24. IDGVC Venture Partners
25. Alta Partners
26. Trident Capital
27. Institutional Venture Partners
28. Allegis Capital
29. Legend Capital
30. Reliance Technology Ventures
31. InterWest Partners
32. Mangrove Partners
33. Banexi Ventures
34. Technology Crossover Partners
35. Foundation Capital
36. Charles River Ventures
37. Mayfield Venture Capital
38. JAFCO Ventures
39. Redpoint Ventures
40. Menlo Ventures
41. Azure Capital Partners
42. Oak Investment Partners
43. US Venture Partners
44. Balderton Capital Management
45. Mohr Davidow Ventures
46. Carmel Ventures
47. Amadeus Capital Partners
48. Globespan Capital Partners
49. BDC Venture
50. Venrock Associates
51. Canaan Partners
52. CDH Ventures
53. FTQ
54. Polaris Venture Partners
55. General Catalyst Partners
56. Sierra Ventures
57. CDC Innovation
58. Atlas Ventures
59. Globis Capital
60. Highland Capital Partners
61. Crescendo Ventures
62. Ignition Partners
63. Nexus India Capital
64. Trinity ventures
65. Hummer Winblad Venture Partners
66. Sigma Partners
67. Allen Buckridge Ventures
68. Walden International
69. Northern Light Venture Capital
70. Doughty Hanson Technology Ventures
71. Morgenthaler Ventures
72. CMEA Ventures
73. KTB Venture
74. Tallwood Venture Capital
75. ATA Ventures
76. Shenzen Capital Group
77. Vengrowth Capital Fund
78. Early Bird
79. Jerusalem Venture Partners
80. Advent Ventures
81. Northzone Capital
82. Southern Cross Venture Partners
83. Emergence Capital Partners
84. Artiman Ventures
85. GSR Venture
86. Bluerun Ventures
87. GGV Capital
88. Garnett and Helfrich Capital
89. Granite Ventures
90. Vantage Point Venture Partners
91. Shasta Ventures
92. iGlobe Partners
93. DN Capital
94. Northcap Partners
95. Partech Ventures
96. Scale Venture Partners
97. Mustang Ventures
98. Gemini Israel Fund
99. Gabriel Venture Partners
100. Zone Venture Capital
Năm 2007-2009 là khoảng thời gian đen tối không chỉ cho các limited partnerships quản lý lượng tiền khổng lồ. Top 100 Global Venture Capitalists là những cty tốt nhất trong nhóm, lựa chọn từ danh sách 1.800 cty.
Việc đánh giá dựa trên nhiều benchmarks như Red Herring đánh giá cao các cty vượt mực lợi nhuận trung bình và xây dựng các công ty từ nền móng ở góc độ toàn cầu. Red Herring cũng đánh giá cao đội ngũ chuyển giao tốt từ thế hệ này qua thế hệ khác. Ngoài ra, Red Herring cũng đánh giá cao cty được các nhà khởi nghiệp đánh giá tốt vì tư vấn và trợ giúp.
Top 100 Global Venture Capitalists
01. Accel Partners
02. Softbank
03. Index Ventures
04. Sequoia Capital
05. Kleiner Perkins Caufield & Byers
06. DCM
07. Insight Venture Partners
08. Draper Fisher Jurveston
09. Sofinnova Partners
10. Matrix Partners
11. New Enterprise Associates
12. Bessemer Venture Capital
13. Greylock Partners
14. Wellington Partners
15. Khosla Ventures
16. Norwest Venture Partners
17. Benchmark Capital
18. TVM Capital
19. Battery Ventures
20. Lightspeed Venture Capital
21. August Capital
22. Pitango Venture Capital
23. GRP Partners
24. IDGVC Venture Partners
25. Alta Partners
26. Trident Capital
27. Institutional Venture Partners
28. Allegis Capital
29. Legend Capital
30. Reliance Technology Ventures
31. InterWest Partners
32. Mangrove Partners
33. Banexi Ventures
34. Technology Crossover Partners
35. Foundation Capital
36. Charles River Ventures
37. Mayfield Venture Capital
38. JAFCO Ventures
39. Redpoint Ventures
40. Menlo Ventures
41. Azure Capital Partners
42. Oak Investment Partners
43. US Venture Partners
44. Balderton Capital Management
45. Mohr Davidow Ventures
46. Carmel Ventures
47. Amadeus Capital Partners
48. Globespan Capital Partners
49. BDC Venture
50. Venrock Associates
51. Canaan Partners
52. CDH Ventures
53. FTQ
54. Polaris Venture Partners
55. General Catalyst Partners
56. Sierra Ventures
57. CDC Innovation
58. Atlas Ventures
59. Globis Capital
60. Highland Capital Partners
61. Crescendo Ventures
62. Ignition Partners
63. Nexus India Capital
64. Trinity ventures
65. Hummer Winblad Venture Partners
66. Sigma Partners
67. Allen Buckridge Ventures
68. Walden International
69. Northern Light Venture Capital
70. Doughty Hanson Technology Ventures
71. Morgenthaler Ventures
72. CMEA Ventures
73. KTB Venture
74. Tallwood Venture Capital
75. ATA Ventures
76. Shenzen Capital Group
77. Vengrowth Capital Fund
78. Early Bird
79. Jerusalem Venture Partners
80. Advent Ventures
81. Northzone Capital
82. Southern Cross Venture Partners
83. Emergence Capital Partners
84. Artiman Ventures
85. GSR Venture
86. Bluerun Ventures
87. GGV Capital
88. Garnett and Helfrich Capital
89. Granite Ventures
90. Vantage Point Venture Partners
91. Shasta Ventures
92. iGlobe Partners
93. DN Capital
94. Northcap Partners
95. Partech Ventures
96. Scale Venture Partners
97. Mustang Ventures
98. Gemini Israel Fund
99. Gabriel Venture Partners
100. Zone Venture Capital
Thứ Ba, 18 tháng 8, 2009
George Soros Và Đầu Tư Cổ Phiếu
Tờ Reuters đăng tin Quỹ Soros Fund Management của tỷ phú George Soros cuối quý 2 nắm giữ $4.2 billion sau khi giảm tỉ lệ nắm giữ cổ phần ở một số nhà bán lẻ: Wal-Mart Stores, Walgreen Co và Lowe's Cos Inc.
Tờ Reuters cũng đưa tin quỹ này cũng tăng tỉ lệ nắm giữ ở Bank of America, mua vào Dell Inc và Pfizer Inc (dược phẩm).
Thật ra tôi không theo dõi thông tin về quỹ này nhưng tôi muốn nói về khía cạnh lĩnh vực đầu tư.
Ai cũng biết Soros là nhà đầu cơ tiền tệ nổi tiếng về vụ đánh cược đồng bảng Anh xuống giá năm 1992, hay là nhân vật chính trong khủng hoảng kinh tế khu vực ASEAN năm 1997.
Nhưng có lẽ sau hai vụ này, việc đầu tư vào tiền tệ đã không còn thuận lợi như trước. Dĩ nhiên chuyện đầu tư cổ phiếu không phải chỉ mới gần đây.
Nhưng có lẽ hiện nay, quỹ của Soros sẽ tập trung nhiều về mảng đầu tư này.
Tôi chú ý đến một thông tin rằng năm 2004, Warren Buffet và George Soros đã gặp nhau mặc dù 2 người có cái nhìn tương đối khác nhau. Trong những năm 2000, Buffet cũng bắt đầu chú ý nhiều đển mảng fixed assets, còn ngược lại Soros cũng đi đầu tư cổ phiếu. Có lẽ cuộc gặp gỡ này cũng có ảnh hưởng nhất định.
Để ý là trong khủng khoảng tài chính (2008 - ?), Warren Buffet hiện thời trên sổ sách là đã lời lớn khi đầu tư vào Goldman Sachs. Trong khi Soros tiếp tục nâng stake của mình trong Bank Of America.
Tôi nhận ra một điểm chung của Soros và Buffet: Soros luôn nhắc đển "imperfect understanding" (suy nghĩ không hoàn hảo) của những người tham gia thị trường, và có thể chớp lợi nhuận từ việc này, còn Buffet thì luôn có câu "Hãy tham lam khi mọi người sợ hãi".
Tờ Reuters cũng đưa tin quỹ này cũng tăng tỉ lệ nắm giữ ở Bank of America, mua vào Dell Inc và Pfizer Inc (dược phẩm).
Thật ra tôi không theo dõi thông tin về quỹ này nhưng tôi muốn nói về khía cạnh lĩnh vực đầu tư.
Ai cũng biết Soros là nhà đầu cơ tiền tệ nổi tiếng về vụ đánh cược đồng bảng Anh xuống giá năm 1992, hay là nhân vật chính trong khủng hoảng kinh tế khu vực ASEAN năm 1997.
Nhưng có lẽ sau hai vụ này, việc đầu tư vào tiền tệ đã không còn thuận lợi như trước. Dĩ nhiên chuyện đầu tư cổ phiếu không phải chỉ mới gần đây.
Nhưng có lẽ hiện nay, quỹ của Soros sẽ tập trung nhiều về mảng đầu tư này.
Tôi chú ý đến một thông tin rằng năm 2004, Warren Buffet và George Soros đã gặp nhau mặc dù 2 người có cái nhìn tương đối khác nhau. Trong những năm 2000, Buffet cũng bắt đầu chú ý nhiều đển mảng fixed assets, còn ngược lại Soros cũng đi đầu tư cổ phiếu. Có lẽ cuộc gặp gỡ này cũng có ảnh hưởng nhất định.
Để ý là trong khủng khoảng tài chính (2008 - ?), Warren Buffet hiện thời trên sổ sách là đã lời lớn khi đầu tư vào Goldman Sachs. Trong khi Soros tiếp tục nâng stake của mình trong Bank Of America.
Tôi nhận ra một điểm chung của Soros và Buffet: Soros luôn nhắc đển "imperfect understanding" (suy nghĩ không hoàn hảo) của những người tham gia thị trường, và có thể chớp lợi nhuận từ việc này, còn Buffet thì luôn có câu "Hãy tham lam khi mọi người sợ hãi".
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)