Hiển thị các bài đăng có nhãn khủng hoảng tài chính. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn khủng hoảng tài chính. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 12 tháng 12, 2009

TARP Auctions

Trích một đoạn trên Harvard Business Review có nhắc tới việc đấu giá các khoản hỗ trợ của chính phủ Mỹ Troubled Asset Relief Program (TARP):

Khi chính phủ Mỹ lập ra chương trình TARP vào tháng 10, 2008, ý kiến ban đầu là tạo ra nhựng bán đấu giá ngược (reverse auctions), tức là vai trò của người bán và người mua bị đảo lộn, để mua những tài sản độc hại của mà các ngân hàng đang gánh.
Bộ Ngân Khố sẽ chỉ định một loại chứng khoán và sau đó các ngân hàng sẽ cạnh tranh nhau để bán những tài sản mà phù hợp với tiêu chí cho chính phủ. Giá sẽ được trả xuống và giá thấp nhất sẽ thắng, do vậy tạo ra một tác động lớn nhất tới đô la của những người đóng thuế ở Mỹ.

Vấn đề là ở chỗ có ít nhất 100,000 loại chứng khoán đảm bảo bằng thế chấp (morgage-backed securities) với những điều khoản đặc biệt, đáo hạn, lãi suất, vị trí địa lý, lịch sử thanh toán, và điểm số FICO score(một điểm số về tín dụng) khác nhau.
Ngay cả nếu chính phủ chỉ định tài sản cho mỗi cuộc đấu giá dựa trên những điểm đặc trưng quan trọng nhất, thì cũng thật căng thẳng giữa việc tạo ra những tiêu chí đủ và chính xác và việc xuất hiện đủ số người trả giá cần thiết. Một phần vì lý do này, Bộ Ngân Khố đã từ bỏ kế hoạch chỉ hơn một tháng sau khi lập chương trình TARP.

9 tháng trôi qua. Một vài tổ chức nhận TARP đã trả lại tiền quỹ TARP funds của mình, kích hoạt quyền mua lại những chứng quyền warrants mà họ đã phát hành cho chính phủ để nhận tiền cứu trợ với giá thị trường hợp lý. Và giá thị trường hợp lý được định ra như thế nào khi mà không có thị trường hoạt động tích cực cho những chứng quyền này? Goldman Sachs, Morgan Stanley, và những hàng khác đã thỏa thuận riêng với Bộ Ngân Khố, làm rấy lên quan ngại của công chúng về những giao dịch buôn bán hậu trường (backroom deals) mà những người trả thuế là những người mất tiền. Jamie Dimon, CEO của JPMorgan Chase, quyết định ngăn chặn những chỉ trích này bằng cách yêu cầu Bộ Ngân Khố đấu giá TARP warrants mà công ty nắm giữ. Không giống như các tài sản độc hại, chứng quyền của JPMorgan Chase đồng nhất và vì thế phù hợp để đấu giá. Một cuộc đấu giá minh bạch cũng sẽ loại bỏ đi những lo ngại về giao dịch hậu trường.
Và vì thế vào tháng 10, 2008, chính phủ Mỹ đề nghị đấu giá khi mà việc đấu giá là không phù hợp; và năm 2009, chính phủ Mỹ chọn thỏa thuận riêng khi mà việc đấu giá là hoàn toàn phù hợp.

Thứ Ba, 8 tháng 12, 2009

Đầu Tư Trong Khủng Hoảng

Đối với John Paulson, cuộc khủng hoảng tín dụng là một con vịt Bắc Kinh, còn đối với bạn thì sao?
Tôi không đề cao chuyện ý nghĩa của chữ tường hình Trung Quốc "khủng hoảng". Song, thực tế, khủng hoảng chỉ tồi tệ với người dân lao động, và những quản lý kém. Rất dễ gặp những than vãn về những tác động của cuộc khủng hoảng đến đời sống xã hội, và những người lo sợ thì khắp nơi. Nhưng, chính khủng hoảng mới là thời điểm đầu tư tốt. Hãy xem một số nhà đầu tư đã kiếm lời, bạn sẽ hiểu rằng khủng hoảng đã tạo ra cơ hội đầu tư.

Warren Buffett

Trong lúc khủng hoảng đạt ở đỉnh điểm, Warren Buffett bỏ tiền tỷ vào Goldman Sachs. Năm 2009, cổ phiếu của các ngân hàng như Goldman hồi phục. Buffett không bán cổ phần này nhưng khoản lời trên giấy số liệu tháng 7 là $4.1 billion, (khoảng 44%).

Một vài quỹ sovereign wealth funds

Tháng 6/2009, một công ty của chính phủ Abu Dhabi (một trong 7 nước tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất), là International Petroleum Investment Company, bán phần lớn cổ phần trong ngân hàng Anh Barclays, kiếm khoản lợi nhuận là khoảng £2 billion (vốn bỏ ra cũng là £2 billion).

9/2009, GIC, công cụ của chính phủ Singapore cũng đạt lợi nhuận $1.6 billion sau khi bán nửa số cổ phiếu Citigroup.

10/2009, quỹ SWF của Qatar tuyến bố bán một phần cổ phiếu nắm giữ ở ngân hàng Barclays. Theo bài báo của New York Times, thì Qatar kiếm được khoảng lợi nhuận khoảng £634 million ($1.03 billion). Qatar đã đầu tư vào Barclays và trở thành cổ đông lớn nhất khi ngân hàng này ở giai đoạn đỉnh của khủng hoảng tài chính. Cổ phiếu Barclays tăng 5 lần sau khi ngân hàng từ chối khoản bơm tiền của chính phủ.

Không kém láng giềng Qatar, Kuwait trong thông báo vừa mới đây nhất cho biết quỹ SWF của nước này cũng ghi sổ khoản lợi nhuận $1.1 billion từ việc đầu tư vào cổ phiếu Citigroup tháng 1, 2008.

John Paulson

Tất cả những con số trên đều không ấn tượng, bởi cái tên John Paulson. Tôi nhớ hồi 2008, có đọc bài báo nói rằng George Soros đã mời John Paulson ăn trưa, vì khi đó John Paulson là người kiếm được khoản lợi nhuận từ việc đầu cớ giá xuống các khoản subprime mortgage securities (lúc đó cỡ khoảng $4 billion cho riêng bản thân). Tuy nhiên vẫn chưa dừng ở đó, những thông tin gần đây John Paulson, đã lập kỷ lục đạt lợi nhuận $20 billion từ 2007 đến đầu 2009.
Chỉ riêng năm 2007, Paulson kiếm $15 billion đánh cược vào bong bóng bất động sản ( George Soros kiếm £1 billion khi đánh cược vào sự xuống giá đồng bảng 1992). Năm 2008, Paulson short các công ty tài chính, và kiếm thêm $5 billion.

Năm 2009 này, Paulson làm gì?
Đầu tư vào cổ phiếu các ngân hàng như Citigroup Inc. và Bank of America Corp. Cũng nói ở trên, năm 2009 giá cổ phiếu các ngân hàng hồi phục và đem lại lợi nhuận. Ngoài ra, Paulson cũng đầu tư vào vàng, cũng như cổ phiếu liên quan tới vàng, con số đưa ra là khoảng $3 billion các khoản đầu tư liên quan đến vàng.

Nếu số liệu và hình minh họa trên là đúng thì đúng là Paulson thích vàng!

Thứ Ba, 3 tháng 11, 2009

Jim Rogers Cảnh Báo Khủng Hoảng Tiền Tệ

14/9/2009, Jim Rogers, nhà đầu tư huyền thoại, đồng sáng lập Quantum Fund với George Soros, đã nói với CNBC rằng những điều tồi tệ nhất của khủng hoảng kinh tế chưa chấm dứt và một cuộc khủng hoảng về tiền tệ có thể xảy ra trong năm nay hoặc năm tới, bởi vì vấn đề có quá nhiều nợ trong hệ thống chưa được giải quyết..



CEO của Rogers Holdings cũng nói thêm rằng ông dự báo sẽ có cuộc khủng hoảng tiền tệ hoặc bán khủng hoảng trong mùa thu này hoặc năm tới. Ông cũng nói Ben Barnanke và Alan Greenspan mang "crony capitalism" (tạm dịch là tư bản chủ nghĩa thân hữu - giữa nhà nước và doanh nghiệp) nhưng cũng sẽ không giải quyết vấn đề của thế giới.

Có vẻ như mùa thu đang qua đi mà chưa thấy rõ khủng hoảng tiền tệ nào.

2/11/2009, Jim Rogers tái khẳng định nhận định của mình trong một cuộc phỏng vấn với Financial Times nhưng có chút thay đổi. Rogers nói “I do expect [a] currency crisis or semi-crisis in the next year or two because there are so many imbalances in the world.” Như vậy, ông vẫn cảnh báo về một cuộc khoảng hay bán khủng hoảng trong một hoặc hai năm tới.

Jim Rogers cũng đầu tư vào cổ phiếu ở Trung Quốc từ cuối thập niên 1990 nhưng ông khẳng định là chưa bán cổ phiếu nào dù năm nay cổ phiếu Trung Quốc tăng mạnh.

Mỹ là con nợ lớn nhất thế giới, nên những cảnh báo của Rogers tôi nghĩ rất đáng lưu tâm nhưng media effect cũng có thể thay đổi ít nhiều đến dự đoán này vì đây không phải là những lần duy nhất Jim Rogers cảnh báo trong năm nay.

Thứ Sáu, 3 tháng 7, 2009

Fortune Recovery Index

Fortune và TrimTabs phối hợp cùng đò lường mức độ suy thoái kinh tế và khả năng phục hồi với chỉ số Fortune Recovery Index (Fortune Big Picture Index) với 7 thang biểu đo sức khỏe của nền kinh tế Mỹ: Nhà đất, Việc làm, Cổ phiếu, Vay kinh doanh, Vay tiêu dùng, Thu nhập hộ gia đình và Sự tin tưởng của các CEO (CEO confidence).