Tôi xem một bộ phim cũ tên John Q (2002) do Denzel Washington thủ vai chính. Chẳng phải phim tình cảm mùi mẫn, hay những pha hành động kèm sex, mà là một bộ phim về thực trạng xã hội ở Mỹ. John Q là một công nhân nhà máy, có vợ và một con trai chắc cỡ 6 tuổi. Anh không có nhà riêng mà phải thuê. Cuộc vẫn êm ấm hạnh phúc tới một ngày con trai anh vô bệnh viện, bác sĩ nói tim cậu bé lớn hơn bình thường 3 lần và phải thay tim nhân tạo nếu không chỉ có thể sống trong vòng vài tháng, vài tuần, thậm chí vài ngày.
Viện phí tổng cộng là $250,000, trả trước 1/3 là $75,000. Nhưng quả thực đây là một số tiền quá lớn. Các bác sĩ xem hồ sơ của John Q và thấy anh không có cổ phiếu, không có trái phiếu và không có khoản đầu tư nào. Chúng ta sẽ nói về vấn đề này sau. Và thế là John Q đặt hết tất cả hy vọng vào khoản bảo hiểm mà anh đóng ở nhà máy. Tuy nhiên, giám đốc công ty đã thay đổi chính sách bảo hiểm và chuyển từ loại hình PPO sang HMO. Tôi không hiểu rõ lắm về quy định ở Mỹ, song nôm na là chuyển sang một chính sách ít co lợi cho người lao động, và nếu trường hợp con trai anh gặp vấn đề thì bảo hiểm sẽ không chi trả, anh chỉ có thệ nhận tối đa $20,000. Anh phải làm đơn kiện, may mắn thay đơn kiện của anh được chấp nhận. Anh đến bệnh viện với tờ khiếu nại, nhưng bệnh viện không chịu vì họ muốn có tiền mặt. Nếu có tiền mặt, tên của con trai anh sẽ được liệt vào danh sách nhận tiền nhân đạo, tình thương hay hảo tâm. Thế là, John và vợ về nhà bán hết tất cả đồ đạc có thể (TV được $20), bán luôn cả chiếc nhẫn cưới (được $90), rồi đi xin tiền quyên góp từ đồng nghiệp, các hiệp hội, tổ chức,... nhưng vẫn không đủ (khoản tiền bảo hiểm cần thời gian). Rồi vợ anh gọi điện từ bệnh viện nói rằng họ sẽ cho con anh xuất viện, chị khóc kêu anh phải làm cái gì đó. Bước đường cùng, John Q xách súng tới bệnh viện uy hiếp bác sĩ để hy vọng đưa tên con mình vào danh sách nhận hỗ trợ nhân đạo.
Quay trở lại vấn đề "không cổ phiếu, không trái phiếu, không khoản đầu tư". Tôi rất nể những người dám nói mình không cần tiền. Những người này có thể là giàu từ trong trứng, là nghệ sĩ tóc dài tới rốn, hoặc mới bị bồ đá. Quả thật, với những anh thích cuộc sống tự do, lang thang cầu bất cầu bơ thì tiền chẳng có ý nghĩa gì. Nhưng đối với một người bình thường có gia đình, tiền khá là quan trọng. Không cần phải mua xe sang Audi như Tăng Thanh Hà, hay đốt tiền trong strip clubs, nhưng đôi lúc con người ta cần rất nhiều tiền như trong trường hợp người thân cần tiền chữa trị này, và những người chỉ có thu nhập từ đồng lương sẽ khó kham nổi. Đầu tư là một giải pháp để có thể tự do về tài chính. Những người không đầu tư sau này có thể sẽ khó khăn hơn như John Q (dĩ nhiên trừ trường hợp bạn được trả lương cao ngất ngưởng như ca sĩ, CEO, quan chức,v.v.., được thừa kế tài sản lớn, lấy vợ hoặc chồng giàu, trúng số...)
Hiển thị các bài đăng có nhãn đầu tư. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn đầu tư. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Bảy, 9 tháng 1, 2010
Thứ Ba, 8 tháng 12, 2009
Đầu Tư Trong Khủng Hoảng
Đối với John Paulson, cuộc khủng hoảng tín dụng là một con vịt Bắc Kinh, còn đối với bạn thì sao?
Tôi không đề cao chuyện ý nghĩa của chữ tường hình Trung Quốc "khủng hoảng". Song, thực tế, khủng hoảng chỉ tồi tệ với người dân lao động, và những quản lý kém. Rất dễ gặp những than vãn về những tác động của cuộc khủng hoảng đến đời sống xã hội, và những người lo sợ thì khắp nơi. Nhưng, chính khủng hoảng mới là thời điểm đầu tư tốt. Hãy xem một số nhà đầu tư đã kiếm lời, bạn sẽ hiểu rằng khủng hoảng đã tạo ra cơ hội đầu tư.
Warren Buffett
Trong lúc khủng hoảng đạt ở đỉnh điểm, Warren Buffett bỏ tiền tỷ vào Goldman Sachs. Năm 2009, cổ phiếu của các ngân hàng như Goldman hồi phục. Buffett không bán cổ phần này nhưng khoản lời trên giấy số liệu tháng 7 là $4.1 billion, (khoảng 44%).
Một vài quỹ sovereign wealth funds
Tháng 6/2009, một công ty của chính phủ Abu Dhabi (một trong 7 nước tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất), là International Petroleum Investment Company, bán phần lớn cổ phần trong ngân hàng Anh Barclays, kiếm khoản lợi nhuận là khoảng £2 billion (vốn bỏ ra cũng là £2 billion).
9/2009, GIC, công cụ của chính phủ Singapore cũng đạt lợi nhuận $1.6 billion sau khi bán nửa số cổ phiếu Citigroup.
10/2009, quỹ SWF của Qatar tuyến bố bán một phần cổ phiếu nắm giữ ở ngân hàng Barclays. Theo bài báo của New York Times, thì Qatar kiếm được khoảng lợi nhuận khoảng £634 million ($1.03 billion). Qatar đã đầu tư vào Barclays và trở thành cổ đông lớn nhất khi ngân hàng này ở giai đoạn đỉnh của khủng hoảng tài chính. Cổ phiếu Barclays tăng 5 lần sau khi ngân hàng từ chối khoản bơm tiền của chính phủ.
Không kém láng giềng Qatar, Kuwait trong thông báo vừa mới đây nhất cho biết quỹ SWF của nước này cũng ghi sổ khoản lợi nhuận $1.1 billion từ việc đầu tư vào cổ phiếu Citigroup tháng 1, 2008.
John Paulson
Tất cả những con số trên đều không ấn tượng, bởi cái tên John Paulson. Tôi nhớ hồi 2008, có đọc bài báo nói rằng George Soros đã mời John Paulson ăn trưa, vì khi đó John Paulson là người kiếm được khoản lợi nhuận từ việc đầu cớ giá xuống các khoản subprime mortgage securities (lúc đó cỡ khoảng $4 billion cho riêng bản thân). Tuy nhiên vẫn chưa dừng ở đó, những thông tin gần đây John Paulson, đã lập kỷ lục đạt lợi nhuận $20 billion từ 2007 đến đầu 2009.
Chỉ riêng năm 2007, Paulson kiếm $15 billion đánh cược vào bong bóng bất động sản ( George Soros kiếm £1 billion khi đánh cược vào sự xuống giá đồng bảng 1992). Năm 2008, Paulson short các công ty tài chính, và kiếm thêm $5 billion.
Năm 2009 này, Paulson làm gì?
Đầu tư vào cổ phiếu các ngân hàng như Citigroup Inc. và Bank of America Corp. Cũng nói ở trên, năm 2009 giá cổ phiếu các ngân hàng hồi phục và đem lại lợi nhuận. Ngoài ra, Paulson cũng đầu tư vào vàng, cũng như cổ phiếu liên quan tới vàng, con số đưa ra là khoảng $3 billion các khoản đầu tư liên quan đến vàng.

Nếu số liệu và hình minh họa trên là đúng thì đúng là Paulson thích vàng!
Tôi không đề cao chuyện ý nghĩa của chữ tường hình Trung Quốc "khủng hoảng". Song, thực tế, khủng hoảng chỉ tồi tệ với người dân lao động, và những quản lý kém. Rất dễ gặp những than vãn về những tác động của cuộc khủng hoảng đến đời sống xã hội, và những người lo sợ thì khắp nơi. Nhưng, chính khủng hoảng mới là thời điểm đầu tư tốt. Hãy xem một số nhà đầu tư đã kiếm lời, bạn sẽ hiểu rằng khủng hoảng đã tạo ra cơ hội đầu tư.
Warren Buffett
Trong lúc khủng hoảng đạt ở đỉnh điểm, Warren Buffett bỏ tiền tỷ vào Goldman Sachs. Năm 2009, cổ phiếu của các ngân hàng như Goldman hồi phục. Buffett không bán cổ phần này nhưng khoản lời trên giấy số liệu tháng 7 là $4.1 billion, (khoảng 44%).
Một vài quỹ sovereign wealth funds
Tháng 6/2009, một công ty của chính phủ Abu Dhabi (một trong 7 nước tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất), là International Petroleum Investment Company, bán phần lớn cổ phần trong ngân hàng Anh Barclays, kiếm khoản lợi nhuận là khoảng £2 billion (vốn bỏ ra cũng là £2 billion).
9/2009, GIC, công cụ của chính phủ Singapore cũng đạt lợi nhuận $1.6 billion sau khi bán nửa số cổ phiếu Citigroup.
10/2009, quỹ SWF của Qatar tuyến bố bán một phần cổ phiếu nắm giữ ở ngân hàng Barclays. Theo bài báo của New York Times, thì Qatar kiếm được khoảng lợi nhuận khoảng £634 million ($1.03 billion). Qatar đã đầu tư vào Barclays và trở thành cổ đông lớn nhất khi ngân hàng này ở giai đoạn đỉnh của khủng hoảng tài chính. Cổ phiếu Barclays tăng 5 lần sau khi ngân hàng từ chối khoản bơm tiền của chính phủ.
Không kém láng giềng Qatar, Kuwait trong thông báo vừa mới đây nhất cho biết quỹ SWF của nước này cũng ghi sổ khoản lợi nhuận $1.1 billion từ việc đầu tư vào cổ phiếu Citigroup tháng 1, 2008.
John Paulson
Tất cả những con số trên đều không ấn tượng, bởi cái tên John Paulson. Tôi nhớ hồi 2008, có đọc bài báo nói rằng George Soros đã mời John Paulson ăn trưa, vì khi đó John Paulson là người kiếm được khoản lợi nhuận từ việc đầu cớ giá xuống các khoản subprime mortgage securities (lúc đó cỡ khoảng $4 billion cho riêng bản thân). Tuy nhiên vẫn chưa dừng ở đó, những thông tin gần đây John Paulson, đã lập kỷ lục đạt lợi nhuận $20 billion từ 2007 đến đầu 2009.
Chỉ riêng năm 2007, Paulson kiếm $15 billion đánh cược vào bong bóng bất động sản ( George Soros kiếm £1 billion khi đánh cược vào sự xuống giá đồng bảng 1992). Năm 2008, Paulson short các công ty tài chính, và kiếm thêm $5 billion.
Năm 2009 này, Paulson làm gì?
Đầu tư vào cổ phiếu các ngân hàng như Citigroup Inc. và Bank of America Corp. Cũng nói ở trên, năm 2009 giá cổ phiếu các ngân hàng hồi phục và đem lại lợi nhuận. Ngoài ra, Paulson cũng đầu tư vào vàng, cũng như cổ phiếu liên quan tới vàng, con số đưa ra là khoảng $3 billion các khoản đầu tư liên quan đến vàng.

Nếu số liệu và hình minh họa trên là đúng thì đúng là Paulson thích vàng!
Thứ Hai, 7 tháng 12, 2009
Cơ Hội Đầu Tư Ở Dubai
Đọc các trang thông tin liên quan đến Dubai và Dubai World thì chỉ nghe toàn chuyện người ta hoảng loạn lo sợ. Số khác thì nói đến những hệ lụy đến các vấn đề kinh tế xã hội ở tiểu vương quốc này, nhưng lại có rất ít nói tới những cơ hội đầu tư như nhà đầu tư thị trường mới nổi huyền thoại Mark Mobius.
Mobius cho rằng các nhà đầu tư nên có cái nhìn kỹ hơn, đặc biệt là với tầm nhìn dài hạn, vào các cổ phiếu ở Dubai sau những hỗn loạn thời gian gần đây.
Chỉ số Dubai Financial Market index đã giảm khá mạnh, do tác động từ những
Chairman của Templeton Asset Management Ltd. cho rằng Dubai không vẻ gì là sẽ phá sản và phải ứng cứu.
Shiyin Chen, Michael Patterson, và Vivian Salama viết trên Bloomberg
Những cổ phiếu bất động sản như Emaar Properties PJSC thậm chí giảm sâu hơn chỉ số Dubai Financial Market index nhưng Mobius lại nói mình đặc biệt thích những công ty bất động sản như Emaar. Mobius cho rằng có nhiều bất động sản giàu dòng tiền (tức là có thể tạo ra nhiều dòng tiền), và đang hoạt động tốt. Không phải tất cả bất động sản nào cũng gặp vấn đề.
Tôi nhận thấy ý ở đây, nếu một công ty gặp một vấn đề nghiêm trọng, ví dụ các công ty bất động sản của Dubai World, nó có thể ảnh hưởng tới những công ty khác cùng ngành. Ta sẽ xem xét những ảnh hưởng này là hợp lý hay không, nếu không, đó là cơ hội để đầu tư.
Cũng nói thêm về bất động sản, Mobius cho rằng nhiêu thành phố ở Ấn Độ, Trung Quốc chi tiêu và vay tiền quá mức, và có thể trở thành một Dubai kế tiếp.
Mobius cho rằng các nhà đầu tư nên có cái nhìn kỹ hơn, đặc biệt là với tầm nhìn dài hạn, vào các cổ phiếu ở Dubai sau những hỗn loạn thời gian gần đây.
Chỉ số Dubai Financial Market index đã giảm khá mạnh, do tác động từ những
Chairman của Templeton Asset Management Ltd. cho rằng Dubai không vẻ gì là sẽ phá sản và phải ứng cứu.
Shiyin Chen, Michael Patterson, và Vivian Salama viết trên Bloomberg
The worst plunge in Dubai stocks in a year and record retreat for Abu Dhabi are luring Mark Mobius to “bombed out” Emaar Properties PJSC while investors say phone companies, airlines and port operators have become bargains.
Những cổ phiếu bất động sản như Emaar Properties PJSC thậm chí giảm sâu hơn chỉ số Dubai Financial Market index nhưng Mobius lại nói mình đặc biệt thích những công ty bất động sản như Emaar. Mobius cho rằng có nhiều bất động sản giàu dòng tiền (tức là có thể tạo ra nhiều dòng tiền), và đang hoạt động tốt. Không phải tất cả bất động sản nào cũng gặp vấn đề.
Tôi nhận thấy ý ở đây, nếu một công ty gặp một vấn đề nghiêm trọng, ví dụ các công ty bất động sản của Dubai World, nó có thể ảnh hưởng tới những công ty khác cùng ngành. Ta sẽ xem xét những ảnh hưởng này là hợp lý hay không, nếu không, đó là cơ hội để đầu tư.
Cũng nói thêm về bất động sản, Mobius cho rằng nhiêu thành phố ở Ấn Độ, Trung Quốc chi tiêu và vay tiền quá mức, và có thể trở thành một Dubai kế tiếp.
Nhãn:
bất động sản,
Dubai,
đầu tư,
Mark Mobius,
thị trường mới nổi
Thứ Hai, 23 tháng 11, 2009
Bí Quyết Thành Công Của Jim Rogers
James Beeland Rogers, Jr. là một nhà đầu tư gốc Mỹ. Ông bắt đầu kinh doanh từ khi lên 5 bằng việc bán đậu phọng. Rogers tốt nghiệp Yale University và có một bằng BA về triết học, chính trị và kinh tế học ở Oxford University.
Rogers trở thành một huyền thoại Wall Street khi ông cùng George Soros lập quỹ founded the Quantum Fund.
Sau sự nghiệp làm một quản lý quỹ hedge fund, hông hiện thỉnh thoảng dạy tài chính ở Columbia University, và bình luận trên CNBC Cable Network.

Transcript của cuộc phỏng vấn Jim Rogers mới đây được thực hiện bởi tờ Financial Times sẽ tiết lộ vài điều về bí quyêt thành công của ông.
Bí quyết thành công của ông là gì?
Bởi vì tôi không thông minh hơn hầu hết mọi người, nên tôi sẵn sàng làm việc chăm chỉ hơn hầu hết mọi người. Tôi luôn chuẩn bị để kiểm tra những tri thức thông thường. Nếu tất cả mọi người nghĩ ra một hướng, đó có thể là sai lầm. Nếu bạn chỉ được ra rằng điều đó là sai, bạn rất có thể kiếm được rất nhiều tiền.
Chiến lược đầu tư cơ bản của ông là gì?
Mua thấp bán cao. Tôi cố gắng tìm những thứ rất rẻ, ở nơi đang có chuyển biến tích cực. Sau đó tôi làm đủ bài tập ở nhà để chắc chắn rằng tôi đã đúng. Nó phải rẻ vì nếu tôi sai thì tôi sẽ không mất nhiều tiền.
Mỗi khi tôi mắc sai lầm, thường là vì tôi không làm đủ bài tập.
Đừng có coi thường giá trị của việc thẩm định due dilingence. Trong thập niên 1060, General Motors là công ty thành công nhất thế giới. Một ngày nọ, một chuyên viên phân tích của GM tới ban giám đốc với thông điệp "Người Nhật đang tới".
Họ phớt lờ anh ta. Những nhà đầu tư mà làm bài tập về nhà đã bán cổ phiếu GM và thay vào đó mua cổ phiếu Toyota.
Tôi hiên không mua cổ phiếu nào. Nếu có thứ nào đang bị định giá thấp thì đó hàng hóa cơ bản và một vài đồng tiền.
Picasso hay Art Deco có thể là một khoản đầu tư không?
Tôi đang ở trong một giai đoạn mà tôi không thấy hứng thú sở hữu hay chất đống những thứ đó.
Người ta nên bỏ tiền vào đâu trong suy giảm kinh tế?
Chỉ nên đầu tư vào những thứ mà bạn có biết vài điều về chúng. Sai lầm phần lớn mọi người phạm phải là họ nghe theo những mách nước sốt dẻo, hoặc hành động theo những thứ họ đọc trên những tạp chí.
Hầu hết mọi người đều biết rất nhiều về một thứ gì đó, vì vậy họ chỉ nên bám lấy những gì họ biết và mua những khoản đầu tư trong lĩnh vực đó. Đó là cách bạn làm giàu.
Bạn không thể làm giàu bằng cách đầu tư vào những thứ bạn chẳng biết gì.
Rogers trở thành một huyền thoại Wall Street khi ông cùng George Soros lập quỹ founded the Quantum Fund.
Sau sự nghiệp làm một quản lý quỹ hedge fund, hông hiện thỉnh thoảng dạy tài chính ở Columbia University, và bình luận trên CNBC Cable Network.
Transcript của cuộc phỏng vấn Jim Rogers mới đây được thực hiện bởi tờ Financial Times sẽ tiết lộ vài điều về bí quyêt thành công của ông.
Bí quyết thành công của ông là gì?
Bởi vì tôi không thông minh hơn hầu hết mọi người, nên tôi sẵn sàng làm việc chăm chỉ hơn hầu hết mọi người. Tôi luôn chuẩn bị để kiểm tra những tri thức thông thường. Nếu tất cả mọi người nghĩ ra một hướng, đó có thể là sai lầm. Nếu bạn chỉ được ra rằng điều đó là sai, bạn rất có thể kiếm được rất nhiều tiền.
Chiến lược đầu tư cơ bản của ông là gì?
Mua thấp bán cao. Tôi cố gắng tìm những thứ rất rẻ, ở nơi đang có chuyển biến tích cực. Sau đó tôi làm đủ bài tập ở nhà để chắc chắn rằng tôi đã đúng. Nó phải rẻ vì nếu tôi sai thì tôi sẽ không mất nhiều tiền.
Mỗi khi tôi mắc sai lầm, thường là vì tôi không làm đủ bài tập.
Đừng có coi thường giá trị của việc thẩm định due dilingence. Trong thập niên 1060, General Motors là công ty thành công nhất thế giới. Một ngày nọ, một chuyên viên phân tích của GM tới ban giám đốc với thông điệp "Người Nhật đang tới".
Họ phớt lờ anh ta. Những nhà đầu tư mà làm bài tập về nhà đã bán cổ phiếu GM và thay vào đó mua cổ phiếu Toyota.
Tôi hiên không mua cổ phiếu nào. Nếu có thứ nào đang bị định giá thấp thì đó hàng hóa cơ bản và một vài đồng tiền.
Picasso hay Art Deco có thể là một khoản đầu tư không?
Tôi đang ở trong một giai đoạn mà tôi không thấy hứng thú sở hữu hay chất đống những thứ đó.
Người ta nên bỏ tiền vào đâu trong suy giảm kinh tế?
Chỉ nên đầu tư vào những thứ mà bạn có biết vài điều về chúng. Sai lầm phần lớn mọi người phạm phải là họ nghe theo những mách nước sốt dẻo, hoặc hành động theo những thứ họ đọc trên những tạp chí.
Hầu hết mọi người đều biết rất nhiều về một thứ gì đó, vì vậy họ chỉ nên bám lấy những gì họ biết và mua những khoản đầu tư trong lĩnh vực đó. Đó là cách bạn làm giàu.
Bạn không thể làm giàu bằng cách đầu tư vào những thứ bạn chẳng biết gì.
Thứ Tư, 18 tháng 11, 2009
Về Đầu Tư, Đàn Ông Phụ Nữ Giống Nhau
Scottrade, một công ty môi giới cổ phiếu khách hàng cá nhân có uy tín lớn, trụ sở Missouri, Mỹ tiến hành một cuộc khảo sát với 627 khánh hàng nam giới và 516 khánh hàng nữ giới về những đầu tư của họ. Kết quả thu nhận là về đầu tư, đàn ông và phụ nữ không khác nhau nhiều.

Câu hỏi: Tại sao bạn đầu tư?
Câu hỏi: Với tình trạng kinh tế hiện tại, bạn đang làm gì ma trước đây bạn không làm?
Câu hỏi: Bạn thấy điều gì là khía cạnh thách thức của đầu tư. Lựa chọn tất cả những lựa chọn phù hợp
Như vậy theo như bài khảo sát này thì không có sự chênh lệch nào đáng kể. Những vấn đề quan trọng trong cuộc khảo sát này (margin of error +/-3.1%; 95%confidence)là: phụ nữ đang năm giữ vai trò tích cực hơn trong đầu tư. Sự khác biệt về giới không có ý nghĩa gì, thậm chí 59% phụ nữ cho rằng mình chỉ mới bắt đầu (nam giới 35%) nhưng portfolio của họ và đàn ông đều tăng trưởng tốt như nhau ở mức 48%.
Mặc dù vậy, nhiều đàn ông và phụ nữ đều gặp khó khăn trong việc đầu tư cái gì, vốn đầu tư hay đầu tư khi nào.
Câu hỏi: Tại sao bạn đầu tư?
| Nam | Nữ | |
|---|---|---|
| Tôi đầu tư để nghỉ hưu | 64% | 69% |
| Để dành dụm tiền cho tương lai | 50 | 47 |
| Đầu tư là việc tôi làm | 25 | 25 |
| Để lập một quỹ dự phòng khẩn cấp | 21 | 24 |
| Để giảm nợ | 13 | 13 |
| Để tiết kiệm cho người thân học ĐH | 12 | 16 |
Câu hỏi: Với tình trạng kinh tế hiện tại, bạn đang làm gì ma trước đây bạn không làm?
| Nam | Nữ | |
|---|---|---|
| Tự mình quản lý việc đầu tư | 11% | 11% |
| Chắc chắn rằng các tài khoản được đa dạng hóa | 18 | 16 |
| Nghiên cứu nhiều hơn | 18 | 20 |
| Kiểm tra tài khoản thường xuyên hơn | 29 | 33 |
| Tôi đã học nhiều hơn về đầu tư | 14 | 19 |
| Chớp được những thương vụ tốt | 15 | 11 |
Câu hỏi: Bạn thấy điều gì là khía cạnh thách thức của đầu tư. Lựa chọn tất cả những lựa chọn phù hợp
| Nam | Nữ | |
|---|---|---|
| Biết phải đầu tư cái gì | 49% | 53% |
| Có đủ vốn để đầu tư | 45 | 50 |
| Biết khi nào thì đầu tư | 46 | 43 |
| Hiểu biết môi trường kinh tế | 38 | 42 |
| Hiểu ngôn ngữ đầu tư | 17 | 29 |
| Biết nghiên cứu ở đâu hay như thế nào | 21 | 21 |
Mặc dù vậy, nhiều đàn ông và phụ nữ đều gặp khó khăn trong việc đầu tư cái gì, vốn đầu tư hay đầu tư khi nào.
Chủ Nhật, 15 tháng 11, 2009
Bài Học Đầu Tư Của Anthony Bolton
Anthony Bolton không quá nổi tiếng để người Việt Nam nào cũng biết nhưng ông là một trong những nhà quản lý quỹ đầu tư nổi tiếng nhất United Kingdom, và là một trong nhà nhà đầu tư thành công nhất, mà đã quản lý quỹ Fidelity Special Situations fund trong suốt 27 năm với lợi nhuận trung bình mỗi năm là 19.5% (trong khi benchmark thị trường là 13.5%).
Phong cách đầu tư của Anthony là đầu tư giá trị và contrarian. Tư chất để Bolton trở thành một nhà quản lý danh mục đầu tư hoàn hảo là khả năng tư duy độc lập và kiên định trái ngược với đám đông.
Những gì trong cuốn sách Investing Against the Tide năm 2009, thể hiện quan điểm đầu tư. Bài viết của Ryan C. Fuhrmann rút lại những bài học từ nhà quản lý quỹ này, tôi cũng bình luận một chút.
Về cách phân tích, và lựa chọn đầu tư
Bài học đầu tiên là đó là làm hết mọi cách để có thể tìm ra những ý tưởng đầu tư, dù đó là những bài viết trên tạp chí định kỳ, nghiên cứu những văn bản gốc của công ty hay nói chuyện với ban lãnh đạo công ty hay việc đem so sánh với những khoản đầu tư cùng loại. Điều này giống với nhà đầu tư huyền thoại Peter Lynch, và trong tiếng Anh có thành ngữ là "Leave no stone unturned", tức là mình sẽ làm hết mọi cách để có được sự lựa chọn đầu tư tốt nhất.
Đối với Bolton, phần lớn rủi ro của danh mục nằm ở mức độ rủi ro của từng cổ phiếu. Ông bắt đầu phân tích cơ bản một công ty, tiền hành so sánh lợi thế cạnh tranh, ví dụ như thương hiệu lâu bền (giá trị franchise), và khả năng chịu đựng được những chu kỳ tuần hoàn của nững yếu tỗ vĩ mô mà không kiểm soát được. Điều này dẫn đến việc Bolton lựa chọn các doanh nghiệp về dịch vụ, và tránh những công ty mà đòi hỏi nhiều vốn như mà trong những ngành sản xuất. Ông cũng tránh lệ nợ cao mà có thể dẫn tới việc công ty tổn hại tài chính khi kinh tế suy giảm. Khả năng tạo ra dòng tiền với càng ít chi phí vốn là tiêu chí đầu tiên để xem xét điều này rất giống với nhiều nhà quản lý thành công khác mà nổi tiếng nhất là Warren Buffett.
Bolton là người coi trọng việc nghiên cứu những báo cáo gốc. (Ở Việt Nam, đó là những báo cáo mà các công ty niêm yết nộp lên Sở GDCK. Tuy nhiên, tôi thấy chỉ có ở sàn Hồ Chí Minh là thực hiện nghiêm túc, các báo cáo được nộp và đăng tải trên website của HSX.) Bolton chỉ ra rằng có rất nhiều thông tin bị mất khi thông qua báo cáo của môi giới, hay qua hàng loạt các trang thông tin truyền tải lại. Ở Việt Nam tôi thấy cũng khá đúng, vì thường môi giới thường gởi thông cắt đầu, cắt đuôi qua email cho tôi. Hơn nữa, với đặc điểm kế toán Việt Nam có đôi khác với tiêu chuẩn của GAAP hay IFRS. Thậm chí ngay cả khi không có sự khác biệt này, thì cũng cần xem bản gốc, đb là các thuyết minh kèm theo vì các báo cáo có thể làm thổi phồng lên bằng cách thêm bớt các khoản tài sản vô hình, hay chi phí...
Bolton cho rằng trong một ngành mà luôn phải theo bám mục tiêu giá, và những phương pháp xác định giá trị chính xác thì ông thấy một khoảng giá trị nội tại thì hợp lý hơn. Ông cũng thấy rằng phương pháp chiếu khấu dòng tiền discounted-cash-flow valuation không hiệu quả, bởi vì chúng phụ thuộc vào dự đoán nhiều năm mà điều này thì rất khó đoán chính xác. Ở Việt Nam phương pháp DCF đang được dùng phổ biến. Tôi cũng thấy phương pháp này cũng không thể làm chính xác, mặc dù nó tốt hơn phương pháp tính tốc độ tăng trưởng cổ tức...
Về chuyện nói chuyện trực tiếp với những người quản lý của công ty, ta dễ nghĩ ngay đến Warren Buffett, người luôn nhấn mạnh ý nghĩa của việc này. Câu trích dẫn lời khuyên của Buffett là bạn nên cảm thấy thoải mái như thể người quản lý đó sẽ kết hôn với con trai hay con gái mình. Dĩ nhiên ở đây ta hiểu ý chính muốn nói chứ không phải máy móc hiểu từng câu chữ. Đánh giá về các nhà lãnh đạo, Bolton thường thấy những người mạnh mẽ, chi li trong quản lý là những người thành công nhất. Ông cũng thích những người có quan điểm cân bằng, phân minh, tức là nhìn cả mặt tích cực lẫn mặt tiêu cực của cty, và có lượng cổ phần lớn trong công ty.
Bolton thường phân tích 20 người nắm cổ phiếu nhiều nhất và mức độ tập trung cổ phiếu vào một số cổ đông nhất định hay phân tán rộng cho nhiều người. Những ai đang nắm cổ phiếu cũng là thông tin hữu ích ví dụ như có một nhà đầu tư giá trị khác thì đó là một điều có lợi.
Về quan điểm đầu tư, một bài học quan trọng nữa là đầu tư không phải là đánh bạc, và cũng không nên xem là như vậy. Tuy vậy, rất nhiều cá nhân và tổ chức mua cổ phiếu như thể họ đang mua vé số hay đánh bài ở Las Vegas khi mà không cẩn thận suy tính giữa lợi nhuận thu được và rủi ro kèm theo. Ở Việt Nam cũng vậy thôi, người ta không gọi là đầu tư chứng khoán mà gọi là chơi chứng khoán. Hầu hết chỉ muốn mua, rồi dăm bữa nửa tháng bán chốt lời. Tuy nhiên nhìn diện rộng thì đa phần họ sẽ thường cắt lỗ. Gần đây, người ta lại lôi chuyện các tập đoàn Việt Nam đầu tư chứng khoán lỗ để luận tội.
Tuy nhiên, Anthony Bolton có những điểm khác so với các nhà đầu tư giá trị:
Bolton đề cao đa dạng hóa danh mục đầu tư. Danh mục của ông lên đến 200, mặc dù ông thừa nhận 50 là lý tưởng. Ở điểm này tôi thấy giống với đầu tư theo John Templeton, tuy nhiên 200 có thể là một con số hơi quá lớn. Theo tôi thì mình không nên tập vào quá ít vào một vài công ty sẽ dẫn tới tỷ lệ sở hữu lớn. Sau này thoái vốn sẽ cũng rất khó. Những nhiều tới mức 200 này thì chúng ta sẽ mất rất nhiều thời gian để xây dựng danh mục, quản lý nó, hay thay đổi các cổ phiếu trong danh mục.
Điểm khác thứ 2 là Anthony Bolton cũng sử dụng các biện pháp phân tích kỹ thuật và cũng nói ủng hộ việc dự đoán thị trường lên xuống, cả hai loại này ông dùng để là những quyết định chiến lược ngắn hạn tuy nhiên đối với các nhà đầu tư giá trị thì điều này không phù hợp. Theo tôi thì ở những thị trường như Việt Nam khi mà giá có xu hướng biến động mạnh và thị trường nhỏ và luôn bị soi xét bởi những nhà đầu tư, thì việc sử dụng biện pháp kỹ thuật có thể giúp ích cho việc thoái vốn, hoặc can thiệp khi thị trường hoạt động không hiệu quả (ví dụ như thị trường đi xuống do tin đồn)...
Điềm khác nữa là thời gian năm giữ của ông khá ngắn 1-2 năm thay vì 3-5 năm. Tôi nghĩ nếu ở Việt Nam, 2-3 năm có thể là thời gian hợp lí, nhưng đôi khi 1 năm vì thực sự cũng khó có thể hiểu một doanh nghiệp Việt Nam về lâu dài, và là thị trường mới nổi nên giá biến động mạnh. Tôi nghĩ nên chọn một mức để chốt lời, nếu thị trường di chuyển thuận lợi đạt mức này, thì nên thoái vốn, và quay vòng đầu tư.
Hy vọng một vài bài học ở đây sẽ có thể áp dụng hiệu quả ở Việt Nam.
Phong cách đầu tư của Anthony là đầu tư giá trị và contrarian. Tư chất để Bolton trở thành một nhà quản lý danh mục đầu tư hoàn hảo là khả năng tư duy độc lập và kiên định trái ngược với đám đông.
Contrarian là một phong cách đầu tư đi ngược với xu thế thị trường hiện tại bằng cách mua vào những tài sản khi chúng diễn biến xấu và bán khi chúng diễn biến tốt.Bolton, mệnh danh Peter Lynch của châu Âu, cho rằng tính khí là nhân tố cơ bản để phân biệt giữa một nhà quản lý tiền thành công và một nhà quản lý trung bình.
Những gì trong cuốn sách Investing Against the Tide năm 2009, thể hiện quan điểm đầu tư. Bài viết của Ryan C. Fuhrmann rút lại những bài học từ nhà quản lý quỹ này, tôi cũng bình luận một chút.
Về cách phân tích, và lựa chọn đầu tư
Bài học đầu tiên là đó là làm hết mọi cách để có thể tìm ra những ý tưởng đầu tư, dù đó là những bài viết trên tạp chí định kỳ, nghiên cứu những văn bản gốc của công ty hay nói chuyện với ban lãnh đạo công ty hay việc đem so sánh với những khoản đầu tư cùng loại. Điều này giống với nhà đầu tư huyền thoại Peter Lynch, và trong tiếng Anh có thành ngữ là "Leave no stone unturned", tức là mình sẽ làm hết mọi cách để có được sự lựa chọn đầu tư tốt nhất.
Đối với Bolton, phần lớn rủi ro của danh mục nằm ở mức độ rủi ro của từng cổ phiếu. Ông bắt đầu phân tích cơ bản một công ty, tiền hành so sánh lợi thế cạnh tranh, ví dụ như thương hiệu lâu bền (giá trị franchise), và khả năng chịu đựng được những chu kỳ tuần hoàn của nững yếu tỗ vĩ mô mà không kiểm soát được. Điều này dẫn đến việc Bolton lựa chọn các doanh nghiệp về dịch vụ, và tránh những công ty mà đòi hỏi nhiều vốn như mà trong những ngành sản xuất. Ông cũng tránh lệ nợ cao mà có thể dẫn tới việc công ty tổn hại tài chính khi kinh tế suy giảm. Khả năng tạo ra dòng tiền với càng ít chi phí vốn là tiêu chí đầu tiên để xem xét điều này rất giống với nhiều nhà quản lý thành công khác mà nổi tiếng nhất là Warren Buffett.
Bolton là người coi trọng việc nghiên cứu những báo cáo gốc. (Ở Việt Nam, đó là những báo cáo mà các công ty niêm yết nộp lên Sở GDCK. Tuy nhiên, tôi thấy chỉ có ở sàn Hồ Chí Minh là thực hiện nghiêm túc, các báo cáo được nộp và đăng tải trên website của HSX.) Bolton chỉ ra rằng có rất nhiều thông tin bị mất khi thông qua báo cáo của môi giới, hay qua hàng loạt các trang thông tin truyền tải lại. Ở Việt Nam tôi thấy cũng khá đúng, vì thường môi giới thường gởi thông cắt đầu, cắt đuôi qua email cho tôi. Hơn nữa, với đặc điểm kế toán Việt Nam có đôi khác với tiêu chuẩn của GAAP hay IFRS. Thậm chí ngay cả khi không có sự khác biệt này, thì cũng cần xem bản gốc, đb là các thuyết minh kèm theo vì các báo cáo có thể làm thổi phồng lên bằng cách thêm bớt các khoản tài sản vô hình, hay chi phí...
Bolton cho rằng trong một ngành mà luôn phải theo bám mục tiêu giá, và những phương pháp xác định giá trị chính xác thì ông thấy một khoảng giá trị nội tại thì hợp lý hơn. Ông cũng thấy rằng phương pháp chiếu khấu dòng tiền discounted-cash-flow valuation không hiệu quả, bởi vì chúng phụ thuộc vào dự đoán nhiều năm mà điều này thì rất khó đoán chính xác. Ở Việt Nam phương pháp DCF đang được dùng phổ biến. Tôi cũng thấy phương pháp này cũng không thể làm chính xác, mặc dù nó tốt hơn phương pháp tính tốc độ tăng trưởng cổ tức...
Về chuyện nói chuyện trực tiếp với những người quản lý của công ty, ta dễ nghĩ ngay đến Warren Buffett, người luôn nhấn mạnh ý nghĩa của việc này. Câu trích dẫn lời khuyên của Buffett là bạn nên cảm thấy thoải mái như thể người quản lý đó sẽ kết hôn với con trai hay con gái mình. Dĩ nhiên ở đây ta hiểu ý chính muốn nói chứ không phải máy móc hiểu từng câu chữ. Đánh giá về các nhà lãnh đạo, Bolton thường thấy những người mạnh mẽ, chi li trong quản lý là những người thành công nhất. Ông cũng thích những người có quan điểm cân bằng, phân minh, tức là nhìn cả mặt tích cực lẫn mặt tiêu cực của cty, và có lượng cổ phần lớn trong công ty.
Bolton thường phân tích 20 người nắm cổ phiếu nhiều nhất và mức độ tập trung cổ phiếu vào một số cổ đông nhất định hay phân tán rộng cho nhiều người. Những ai đang nắm cổ phiếu cũng là thông tin hữu ích ví dụ như có một nhà đầu tư giá trị khác thì đó là một điều có lợi.
Về quan điểm đầu tư, một bài học quan trọng nữa là đầu tư không phải là đánh bạc, và cũng không nên xem là như vậy. Tuy vậy, rất nhiều cá nhân và tổ chức mua cổ phiếu như thể họ đang mua vé số hay đánh bài ở Las Vegas khi mà không cẩn thận suy tính giữa lợi nhuận thu được và rủi ro kèm theo. Ở Việt Nam cũng vậy thôi, người ta không gọi là đầu tư chứng khoán mà gọi là chơi chứng khoán. Hầu hết chỉ muốn mua, rồi dăm bữa nửa tháng bán chốt lời. Tuy nhiên nhìn diện rộng thì đa phần họ sẽ thường cắt lỗ. Gần đây, người ta lại lôi chuyện các tập đoàn Việt Nam đầu tư chứng khoán lỗ để luận tội.
Tuy nhiên, Anthony Bolton có những điểm khác so với các nhà đầu tư giá trị:
Bolton đề cao đa dạng hóa danh mục đầu tư. Danh mục của ông lên đến 200, mặc dù ông thừa nhận 50 là lý tưởng. Ở điểm này tôi thấy giống với đầu tư theo John Templeton, tuy nhiên 200 có thể là một con số hơi quá lớn. Theo tôi thì mình không nên tập vào quá ít vào một vài công ty sẽ dẫn tới tỷ lệ sở hữu lớn. Sau này thoái vốn sẽ cũng rất khó. Những nhiều tới mức 200 này thì chúng ta sẽ mất rất nhiều thời gian để xây dựng danh mục, quản lý nó, hay thay đổi các cổ phiếu trong danh mục.
Điểm khác thứ 2 là Anthony Bolton cũng sử dụng các biện pháp phân tích kỹ thuật và cũng nói ủng hộ việc dự đoán thị trường lên xuống, cả hai loại này ông dùng để là những quyết định chiến lược ngắn hạn tuy nhiên đối với các nhà đầu tư giá trị thì điều này không phù hợp. Theo tôi thì ở những thị trường như Việt Nam khi mà giá có xu hướng biến động mạnh và thị trường nhỏ và luôn bị soi xét bởi những nhà đầu tư, thì việc sử dụng biện pháp kỹ thuật có thể giúp ích cho việc thoái vốn, hoặc can thiệp khi thị trường hoạt động không hiệu quả (ví dụ như thị trường đi xuống do tin đồn)...
Điềm khác nữa là thời gian năm giữ của ông khá ngắn 1-2 năm thay vì 3-5 năm. Tôi nghĩ nếu ở Việt Nam, 2-3 năm có thể là thời gian hợp lí, nhưng đôi khi 1 năm vì thực sự cũng khó có thể hiểu một doanh nghiệp Việt Nam về lâu dài, và là thị trường mới nổi nên giá biến động mạnh. Tôi nghĩ nên chọn một mức để chốt lời, nếu thị trường di chuyển thuận lợi đạt mức này, thì nên thoái vốn, và quay vòng đầu tư.
Hy vọng một vài bài học ở đây sẽ có thể áp dụng hiệu quả ở Việt Nam.
Thứ Sáu, 6 tháng 11, 2009
Đầu Tư Theo Cách John Templeton
Sir John MarksTempleton, CFA là nhà đầu tư cổ phiếu Anh gốc Mỹ, đồng thời là nhà kinh doanh và nhà từ thiện. Templeton trở thành tì phú bằng cách tiên phong trong việc sử dụng quỹ tương hỗ đa dạng hóa toàn cầu.
Templeton được phong tước Hiệp sĩ Knight Bachelor bởi nữ hoàng Elizabeth năm 1987 vì những đóng góp từ thiện
Tạp chí Money năm 1999 gọi ông là "arguably the greatest global stock picker of the century” (lựa chọn cổ phiếu toàn cầu vĩ đại nhất thế kỷ).
Năm 2007, Templeton được đưa tên vào danh sách 100 Most Influential People (Time 100) của tạp chí Time dưới danh mục "Power Givers" vì những đóng góp của John Templeton Foundation.
Nói về đầu tư, ông phủ nhận phân tích kỹ thuật và thiên dùng phân tích cơ bản. Nhà đầu tư contrarian thiên về giá trị với tầm nhìn toàn cầu, John Templeton nhấn mạnh đến tính linh động. Ông phản đối việc chọn một loại tài sản hay hoặc cách lựa chọn vĩnh viễn (tức là chỉ lựa chọn một lần).
Theo một cách nào đó, điều này dễ hiểu khi mà phong cách đầu tư của ông là comparison-shopping (chọn mua bằng cách so sánh), tức là luôn sẵn sàng loại bỏ một cổ phiếu để lấy một cổ phiếu khác tốt hơn, và sự tự tin tạo bởi nguồn kiến thức dồi dào.
Ông cũng là tiên phong trong việc tìm kiếm toàn cầu về giá trị và là sáng lập viên của Templeton Group. Với phong cách săn tìm giá hời, ông tìm kiếm những nền kinh tế mở với những xu thế ít xã hội chủ nghĩa và những chính sách ủng hộ đầu tư.
Thật thú vị khi nhận ra cách mà ông xác định giá trị. Với ông, một trăm nhân tố hay nhiều hơn thế có thể được xem xét vào quá trình định giá, nhưng phần lớn trong số chúng là mang tính đặc trưng của ngành; có 4 nhân tố luôn hiện hữu. 4 nhân tố chính để xem xét trong phân tích cơ bản một công ty là:
1. Chỉ số P/E so sánh với những công ty tương tự
2. Lợi nhuận hoạt động biên (operating profit margins); xem nó có đang tăng không
3. Giá trị thanh lý (liquidation value), tức là giá bán khi thanh lý (sell-off)
4. Tốc độ tăng trưởng trung bình của lợi nhuận, và tính nhất quán của sự tăng trưởng. Tránh những công ty mà lợi nhuận sụt 2 năm liên tiếp. Và cũng né tránh những công ty mà phát triển quá nhanh.
Templeton được phong tước Hiệp sĩ Knight Bachelor bởi nữ hoàng Elizabeth năm 1987 vì những đóng góp từ thiện
Tạp chí Money năm 1999 gọi ông là "arguably the greatest global stock picker of the century” (lựa chọn cổ phiếu toàn cầu vĩ đại nhất thế kỷ).
Năm 2007, Templeton được đưa tên vào danh sách 100 Most Influential People (Time 100) của tạp chí Time dưới danh mục "Power Givers" vì những đóng góp của John Templeton Foundation.
Nói về đầu tư, ông phủ nhận phân tích kỹ thuật và thiên dùng phân tích cơ bản. Nhà đầu tư contrarian thiên về giá trị với tầm nhìn toàn cầu, John Templeton nhấn mạnh đến tính linh động. Ông phản đối việc chọn một loại tài sản hay hoặc cách lựa chọn vĩnh viễn (tức là chỉ lựa chọn một lần).
Theo một cách nào đó, điều này dễ hiểu khi mà phong cách đầu tư của ông là comparison-shopping (chọn mua bằng cách so sánh), tức là luôn sẵn sàng loại bỏ một cổ phiếu để lấy một cổ phiếu khác tốt hơn, và sự tự tin tạo bởi nguồn kiến thức dồi dào.
Ông cũng là tiên phong trong việc tìm kiếm toàn cầu về giá trị và là sáng lập viên của Templeton Group. Với phong cách săn tìm giá hời, ông tìm kiếm những nền kinh tế mở với những xu thế ít xã hội chủ nghĩa và những chính sách ủng hộ đầu tư.
Thật thú vị khi nhận ra cách mà ông xác định giá trị. Với ông, một trăm nhân tố hay nhiều hơn thế có thể được xem xét vào quá trình định giá, nhưng phần lớn trong số chúng là mang tính đặc trưng của ngành; có 4 nhân tố luôn hiện hữu. 4 nhân tố chính để xem xét trong phân tích cơ bản một công ty là:
1. Chỉ số P/E so sánh với những công ty tương tự
2. Lợi nhuận hoạt động biên (operating profit margins); xem nó có đang tăng không
3. Giá trị thanh lý (liquidation value), tức là giá bán khi thanh lý (sell-off)
4. Tốc độ tăng trưởng trung bình của lợi nhuận, và tính nhất quán của sự tăng trưởng. Tránh những công ty mà lợi nhuận sụt 2 năm liên tiếp. Và cũng né tránh những công ty mà phát triển quá nhanh.
Thứ Tư, 4 tháng 11, 2009
Trắc Nghiệm Đầu Tư Của Peter Lynch
BusinessWeek có bài lưu trữ (11/09/1998) rất hay về một bài kiểm tra trắc nghiệm nhà đầu tư của Peter Lynch: PETER LYNCH'S INVESTOR TEST
Tuy nội dung 10 câu hỏi này hoàn toàn về về thị trường chứng khoán Mỹ, nhưng ta có thể thấy được quan điểm về đầu tư của nhà đâu tư huyền thoại này.
Bài test này do chính Peter Lynch viết, riêng phần đáp án là được tham khảo từ Fidelity Investments, và các nguồn tin đại chúng.

CÂU HỎI
1. Lý do cơ bản giá cồ phiếu tăng theo thời gian là
A. Nhà đâu tư bỏ thêm tiền mới vào mua cổ phiếu
B. Các công ty tăng trưởng lợi nhuận trên cổ phiếu (earnings per share) theo thời gian
C. Nhà đầu tư thường luôn lạc quan.
D. Dân số Mỹ tăng.
2. Có bao nhiêu lần thị trường điều chỉnh (giảm 10% hoặc hơn) kể từ 1970?
A. 5
B. 9
C. 12
D. 21
3. Năm tiêu đề tin tức xuất hiện trên các báo vào quý 4 năm 1990:
"The Real Estate Bust," Newsweek
"Uncertainty Reigns for U.S. Economy," The Wall Street Journal
"Can America Still Compete?" Time
"Can Your Bank Stay Afloat?" U.S. News & World Report
"Troops March Closer to War," Washington Post
Lợi nhuận đấu tư thị trường cổ phiếu năm tiếp theo là?
A. -6.8%
B. 3.4%
C. 12.2%
D. 30.5%
4. Nếu bạn tính toán thời điểm của thị trường trong suốt 20 năm qua, và có điều không may là không còn cổ phiếu và chỉ có tiền mặt trong suốt 15 tháng "tốt nhất" (khi mà giá cổ phiếu tăng mạnh nhất), bạn sẽ bỏ phí 76% lợi nhuận thu được bởi một nhà đầu tư cồ phiếu với chiến thuật mua và nắm giữ.
A. Đúng
B. Sai
5. Quyết định có ảnh hưởng lớn nhất đến rủi ro và lợi nhuận của khoản đầu tư của bạn là:
A. Quyết định phân phối tiền đầu tư như thế nào vào các loại tài sản (cồ phiếu, trái phiếu, hay tiền mặt)
B. Quyết định nên mua cổ phiếu riêng rẽ hay quỹ mutual funds
C. Quyết định cổ phiếu hay chứng chỉ quỹ mutual funds nào để mua
6. Giá cổ phiếu giảm trong suy thoái, nhưng chúng có xu hướng phục hồi cùng lúc khi nền kinh tế phục hồi.
A. Đúng
B. Sai
7. Khoảng thời gian 10 năm nào cho thấy tổng lợi nhuận đầu tư cao nhất của S&P 500 kề từ 1926?
A. Tháng 6, 1949 đến tháng 5, 1959
B. Tháng 6 1980 đến tháng 5, 1990
C. Tháng 1, 1988 đến tháng 12, 1997
8. Chỉ số S&P 500 giảm 21.5% vào tháng 10, 1987, tháng mà khủng hoảng 1987 (Crash of '87') xảy ra. Tổng lợi nhuận đầu tư vào trái phiếu chính phủ trung gian (intermediate government bonds) trong tháng này là?
A. -10.8%
B. -5.3%
C. 1.2%
D. 3.0%
E. 14.3%
9. Kể từ 1926, cổ phiếu công ty nhỏ tốt hơn cổ phiếu công ty lớn.
A. Đúng
B. Sai
10. Một khoản đầu tư $1,000 vào thì trường cổ phiếu Mỹ năm 1982 sẽ tăng lên một con số ngạc nhiên nhày hôm nay là $11,271. Những nước nào sau đây sẽ còn tốt hơn?
(chú ý bài test này khoảng 11/1998)
A. Britain (Anh)
B. Sweden (Thụy Điển)
C. The Netherlands (Hà Lan)
D. Hong Kong
E. Tất cả những nước trên
ĐÁP ÁN VÀ GIẢI THÍCH
1.
Đáp án: B. Về cơ bản giá cổ phiếu sẽ theo sát lợi nhuận doanh nghiệp. Kể từ sau thế chiến World War II, lợi nhuận tăng 54 lần, còn thị trường cổ phiếu tăng đến 63 lần. Trong vòng 6 năm trở lại đây, lợi nhuận doanh nghiệp là gần như gấp đôi, S&P 500 thì tăng 2.5 lần. Có sự liên hệ chặt chẽ ờ đây.
Dĩ nhiên, những yếu tố ngắn hạn có ảnh hưởng thị trường, và lượng tiền khổng lồ đầu tư vào cổ phiếu thông qua các quỹ 401(k) plans và sự phát triển và phổ biến của các quỹ mutual funds đã có tác động tốt. Nhưng nếu, ví dụ, lượng tiền tương tự đổ vào cổ phiếu mà lợi nhuận các doanh nghiệp vẫn dậm chân hay giảm sút, tôi tin giá chứng khoán năm 1998 dễ hiểu sẽ còn giảm xuống hơn nữa.
Vì vậy, nếu bạn tin rằng nền kinh tế sẽ tiếp tục tiến triển, và doanh nghiệp Mỹ tiếp tục tăng lợi nhuận, thì sẽ thật có lý khi sỡ hữu cổ phiếu.
Nguồn: Ibbotson Encorr, Haver Analytics, Fidelity Investments, first quarter, 1998.
2.
Đáp án: C. 12 lần điều chỉnh kể từ 1970 nghĩa là trung bình cứ 2.5 năm sẽ có một lần điều chỉnh. Chúng xảy ra vào các năm 1970, 1971, 1973-1974, 1977, 1979, 1980, 1981, 1984, 1987, 1989-1990, 1990, and 1997. Mức điều chình 10% có thể không ghê lắm nhu7nng nếu xem lại thế này: : Mùa hè 1998 chỉ số Dow leo lên 9,000 điểm. 10% của 9,000, sẽ là một con số khiến bạn phải mở mắt to: rớt 900 điểm.
Nguồn: DRI/McGraw-Hill, Fidelity Investments, 1998.
3.
Đáp án: D. 30.5%. Điều này ý nói gì? Đừng đề những tiêu đề báo chí làm bạn sợ hãi không dám mua cổ phiếu. Bạn hãy bám kế hoạch của mình trong suốt thời gian suy giảm, điều chỉnh hay thị trường con bò.
1990 là một năm khủng khiếp. Xe tăng của Saddam Hussein lăn bánh vào vào Kuwait. Nửa triệu lính Mỹ gợi tới vịnh Persian Gulf, cùng hàng túi chứa đồ. Ngân hàng, tiết kiệm, cho vay đều trên bờ vực đổ vỡ (on the ropes). Lạm phát, lãi suất ngày một tăng. Khi suy giảm bắt đầu, thì người dân bị mất việc. Những tin tức thảm hại, và nhà đầu tư thì lo sợ. Ở Wall Street, chỉ số Dow rớt hơn 21%, từ 3,000 lúc tháng 7 xuống 2,365 vào tháng 10. (21% nếu Dow sụt giảm trong mùa hè 1998 sẽ lớn hơn 1,800 đểm nhiều.)
Trái với những u tối năm 1990, 1991 là một năm tuyệt vời với cổ phiếu. Ấn tượng hơn, chỉ số S&P 500 đã liên tục tăng từ 30.5% năm 1991 nên gấp 3 lần năm 1998. Những người bám thị trường (market timers) mà không có chứng khoán đã bỏ lỡ khoảng 7 năm tăng trưởng lớn nhất trong lịch sử Mỹ hiện đại.
Nguồn: Bloomberg, Ibbotson Encorr, General Accounting Office, Fidelity Investments, 1998.
4.
Đáp án: A. Đúng. Đừng cố gắng tính toán thời điểm thị trường (time the market). Tính toán chi li, bạn bõ lỡ những lợi nhuận quan trọng. Nếu bạn đầu tư $1,000 vào S&P 500 năm 1978, 20 năm sau khoản đầu tư của bạn nhân lên $21,750. Tuy nhiên, nếu bạn nhảy ra khỏi thị trường trong thời điểm 15 tháng tốt nhất, $1,000 chỉ tăng lên có $6,010. Cái đó chỉ hơn Treasury bills một chút thôi.
Nguồn: Ibbotson Encorr, Fidelity Investments, 1998.
5.
Đáp án: A. Lựa chọn đúng quỹ là xem xét thứ hai. Một nghiên cứu học thuật về pension-plan managers cho thấy 91.5% sự khác biết giữa hiệu suất lợi nhuận một portfolio và một portfolio khác nằm ở việc phân bổ các tài sản. Vì thế việc bạn chia danh mục thanh cổ phiếu, trái phiếu, tiền mặt như thế nào là rất quan trọng. Hãy tìm sự phân chia phù hợp với mức chấp nhận rủi ro, và lịch trình bạn sẽ cần tiền. Một khi bạn có quyết định quan trọng đó, hãy chọn khoảng đầu tư riêng cho bạn và bám lấy kế hoạch của mình.
Nguồn: Brinson, Singer, and Beebower (Financial Analysts Journal/ May-June, 1991), Fidelity Investments, 1998.
6.
Đáp án: B. Sai. Lịch sử cho thấy giá cổ phiếu giảm khi bước vào khủng hoảng, nhưng sau đó phục hồi trước khi toàn bộ nền kinh tế phục hồi. Lý do giá cổ phiếu phục hồi sớm là do vài nhà đầu tư mong đợi vào sự tăng trưởng của lợi nhuận doanh nghiệp và bắt đầu mua thêm cổ phiếu. Tiềm năng lợi nhuận tăng lên ở thị trường cổ phiếu làm cho cổ phiếu có giá trị hơn, vì nhà đầu tư sẵn sàng trả giá cao hơn để được những lợi nhuận đó.
Trong suốt thời kỳ như vậy, những bàn tán ồn áo khó chịu, giá cổ phiếu thì ngày một xuống, lượng tin xấu từ phương tiện đại chúng, bạn bè, đồng nghiệp lại càng tăng. Họ luôn nhắc nhỏ bạn rằng suy giảm kinh tế suy giảm như thế nào. Đừng hoảng loạn. Háy bám lấy đầu tư cổ phiếu của mình. Và cùng tiến với nó.
Nguồn: Ibbotson Encorr, National Bureau of Economic Research, Fidelity Investments, 1998.
7.
Đáp án: A. Nhà đầutư cổ phiếu nhận được phần thưởng lớn trong suốt thập niên 1949-1959 khi mà S&P 500 đem lại lợi nhuận trung bình hàng năm là 21.4% từ tháng 6, 1949 đến tháng 5, 1959. Nền kinh tế phát triển nhanh vào thập niên 1950, trong khi lạm phát và lãi suất đều giữ ở mức thấp. Giá cổ phiếu rẻ, vào đầuthập niên, S&P 500 bán với P/E chỉ có 6. (Lo sợ một cuộc khủng hoảnh 1929-1939 lặp lại, nhiều nhà đầu tư không còn tin tưởng vào cổ phiếu và tránh xa chúng. Kết quả là cổ phiếu của những công ty lớn chỉ bán với giá gấp 6 lần lợi nhuận. chỉ bằng một nửa giá thông thường.)
Đây quả là sự kết hợp như mơ: nền kinh tế ổn định, lạm phát và lãi suất thấp, và giá cổ phiếu hời. $1,000 đầu tư tháng 6, 1949 tăng lên khoảng $6,970 vào tháng 5, 1959! Múc này cao hơn nhiều so với 10 năm 1988-1997, khi lợi nhuận bình qua6nha2ng năm là 18.9% ($1,000 tăng lên khoảng $5,670).
Những sự kiện chính của thập niên 6/1949-5/1959: xây dựng sau chiến tranh bùng nổ, giá cả hàng hóa cơ bản (commodities) cao hơn, việc làm bắt đầu trọng hệ thống liên bang, chiến tranh Korea War, khởi đầu chiến tranh lạnh. Lạm phát trung bình ở mức thấp 2%, trong khi sản lượng công nghiệp tăng gần 6%.
Nguồn: Ibbotson Encorr, Haver Analytics, DRI, Fidelity Investments, 1998.
8.
Đáp án: D. 3.0%. Trái phiếu đã tăng trưởng tốt khi thị trường cổ phiếu đổ vỡ -- thêm một lý do để nắm giữ chúng.
Tháng 10, 1987, được viết trong sách giáo khoa là ví dụ của "flight to quality" (bay đi tìm chất lượng) khi mà những nhà đầu tư sợ hãi tìm chỗ trú chân trong những trái phiếu và Treasury bills. Trái phiếu trở nên có giá trị hơn sau khi Fed giảm lãi suất xuống mức để tạo "thanh khoản" cho hệ thống ngân hàng. Tổng lợi nhuận đầu tư trái phiếu chính phủ dài hạn tháng đó là 6.2%.
Nguồn: Ibbotson Encorr, Fidelity Investments, 1998.
9.
Đáp án: A. Đúng. Công ty nhỏ lãi 12.7%/năm từ 1926 đến 1997, trong khi cổ phiếu cty lớn hơn lời có 11%. Tại sao cổ phiểu nhỏ (cổ phiếu cty nhỏ) lại tốt hơn? Những cỗ máy tài chính như Wal-Mart, Home Depot, Intel, và Microsoft khởi nghiệp từ những công ty nhỏ, rồi sau đó tăng dần lợi nhuận không ngừng cho đến khi họ trở thành những công ty lớn. Nhà đầu tư thamgia ngay từ đầu có thể được lợi từ 10, 20, thậm chí 100 lần. Đầu tư vào những công ty nhỏ thì mạo hiểm hơn đầu tư vào những cty lớn, bởi vì công ty nhỏ dễ bị tác động bời trì trệ kinh tế và giá cổ phiếu lên xuống rất mạnh.
Nguồn: Ibbotson Encorr, Fidelity Investments, 1998.
Những cty được nhắc tên chỉ là mục đích tham khảo, và không được xem là khuyến cáo, hay khuyến nghị nên đầu tư.
10.
Đáp án: E. Tất cả những nước trên. Mọi thị trườn nước ngoài kể trên để tăng trưởng tốt hơn, tính bằng dollars, thị trường Mỹ từ 31/12/1982 tới 31/12/1997. Nước tăng cao nhất là Netherlands (Hà Lan)
$1,000 đầu tư năm 1982 tăng lên $23,346 năm 1997.
Một vài thập niên sẽ tốt hơn(so với thập niên khác) đối với cổ phiếu quốc tế, nhưng nhà đầu tư dài hạn cũng nên suy xét chuyển dịch một phần tài sản ra nước ngoài. Bằng cách phân bổ 15% trong danh mục đầu tư của mình cho cổ phiếu quốc tế từ 1970-1997, bạn sẽ giảm biến động giá mà không sợ giảm lợi nhuận.
Luôn nhớ rằng cổ phiếu quốc tế không phải lúc nào cũng đi lên. Chúng cũng có điều chỉnh và thị trường con bò hệt như thị trường trong nước, Từ đỉnh 1989 tới 4/1998, thị trường Nhật Bản giảm hơn 50%. Nếu bạn đầu tư vào đó, dù bạn là người Nhật hay Mỹ, bạn cũng mất tiền. Nước Italy cũng mất gần 50% từ 1990-1992. Trong năm ngoái, Singpaore và Hong Kong giảm 50%, còn Malaysia rớt gần 75%.
Những thị trường mới nổi càng nhỏ thì lại càng thấy rủi ro cho nhà đầu tư hơn thị trường phát triển lớn hơn. Lựa chọn những nước tốt nhất không phải chuyện dễ, đó cũng là lý do tại sao tốt nhất nên đa dạng hóa danh mục đầu tư ở thị trường quốc tế.
Đầu tư nước ngoài sẽ có rủi ro lớn hơn ở Mỹ, gồm cả rủi ro về chính trí, kinh tế, và cả rùi ro về biến động tỷ giá ngoại tệ.
Nguồn: Morgan Stanley Capital International, Fidelity Investments, 1998.
Tuy nội dung 10 câu hỏi này hoàn toàn về về thị trường chứng khoán Mỹ, nhưng ta có thể thấy được quan điểm về đầu tư của nhà đâu tư huyền thoại này.
Bài test này do chính Peter Lynch viết, riêng phần đáp án là được tham khảo từ Fidelity Investments, và các nguồn tin đại chúng.
CÂU HỎI
1. Lý do cơ bản giá cồ phiếu tăng theo thời gian là
A. Nhà đâu tư bỏ thêm tiền mới vào mua cổ phiếu
B. Các công ty tăng trưởng lợi nhuận trên cổ phiếu (earnings per share) theo thời gian
C. Nhà đầu tư thường luôn lạc quan.
D. Dân số Mỹ tăng.
2. Có bao nhiêu lần thị trường điều chỉnh (giảm 10% hoặc hơn) kể từ 1970?
A. 5
B. 9
C. 12
D. 21
3. Năm tiêu đề tin tức xuất hiện trên các báo vào quý 4 năm 1990:
"The Real Estate Bust," Newsweek
"Uncertainty Reigns for U.S. Economy," The Wall Street Journal
"Can America Still Compete?" Time
"Can Your Bank Stay Afloat?" U.S. News & World Report
"Troops March Closer to War," Washington Post
Lợi nhuận đấu tư thị trường cổ phiếu năm tiếp theo là?
A. -6.8%
B. 3.4%
C. 12.2%
D. 30.5%
4. Nếu bạn tính toán thời điểm của thị trường trong suốt 20 năm qua, và có điều không may là không còn cổ phiếu và chỉ có tiền mặt trong suốt 15 tháng "tốt nhất" (khi mà giá cổ phiếu tăng mạnh nhất), bạn sẽ bỏ phí 76% lợi nhuận thu được bởi một nhà đầu tư cồ phiếu với chiến thuật mua và nắm giữ.
A. Đúng
B. Sai
5. Quyết định có ảnh hưởng lớn nhất đến rủi ro và lợi nhuận của khoản đầu tư của bạn là:
A. Quyết định phân phối tiền đầu tư như thế nào vào các loại tài sản (cồ phiếu, trái phiếu, hay tiền mặt)
B. Quyết định nên mua cổ phiếu riêng rẽ hay quỹ mutual funds
C. Quyết định cổ phiếu hay chứng chỉ quỹ mutual funds nào để mua
6. Giá cổ phiếu giảm trong suy thoái, nhưng chúng có xu hướng phục hồi cùng lúc khi nền kinh tế phục hồi.
A. Đúng
B. Sai
7. Khoảng thời gian 10 năm nào cho thấy tổng lợi nhuận đầu tư cao nhất của S&P 500 kề từ 1926?
A. Tháng 6, 1949 đến tháng 5, 1959
B. Tháng 6 1980 đến tháng 5, 1990
C. Tháng 1, 1988 đến tháng 12, 1997
8. Chỉ số S&P 500 giảm 21.5% vào tháng 10, 1987, tháng mà khủng hoảng 1987 (Crash of '87') xảy ra. Tổng lợi nhuận đầu tư vào trái phiếu chính phủ trung gian (intermediate government bonds) trong tháng này là?
A. -10.8%
B. -5.3%
C. 1.2%
D. 3.0%
E. 14.3%
9. Kể từ 1926, cổ phiếu công ty nhỏ tốt hơn cổ phiếu công ty lớn.
A. Đúng
B. Sai
10. Một khoản đầu tư $1,000 vào thì trường cổ phiếu Mỹ năm 1982 sẽ tăng lên một con số ngạc nhiên nhày hôm nay là $11,271. Những nước nào sau đây sẽ còn tốt hơn?
(chú ý bài test này khoảng 11/1998)
A. Britain (Anh)
B. Sweden (Thụy Điển)
C. The Netherlands (Hà Lan)
D. Hong Kong
E. Tất cả những nước trên
ĐÁP ÁN VÀ GIẢI THÍCH
1.
Đáp án: B. Về cơ bản giá cổ phiếu sẽ theo sát lợi nhuận doanh nghiệp. Kể từ sau thế chiến World War II, lợi nhuận tăng 54 lần, còn thị trường cổ phiếu tăng đến 63 lần. Trong vòng 6 năm trở lại đây, lợi nhuận doanh nghiệp là gần như gấp đôi, S&P 500 thì tăng 2.5 lần. Có sự liên hệ chặt chẽ ờ đây.
Dĩ nhiên, những yếu tố ngắn hạn có ảnh hưởng thị trường, và lượng tiền khổng lồ đầu tư vào cổ phiếu thông qua các quỹ 401(k) plans và sự phát triển và phổ biến của các quỹ mutual funds đã có tác động tốt. Nhưng nếu, ví dụ, lượng tiền tương tự đổ vào cổ phiếu mà lợi nhuận các doanh nghiệp vẫn dậm chân hay giảm sút, tôi tin giá chứng khoán năm 1998 dễ hiểu sẽ còn giảm xuống hơn nữa.
Vì vậy, nếu bạn tin rằng nền kinh tế sẽ tiếp tục tiến triển, và doanh nghiệp Mỹ tiếp tục tăng lợi nhuận, thì sẽ thật có lý khi sỡ hữu cổ phiếu.
Nguồn: Ibbotson Encorr, Haver Analytics, Fidelity Investments, first quarter, 1998.
2.
Đáp án: C. 12 lần điều chỉnh kể từ 1970 nghĩa là trung bình cứ 2.5 năm sẽ có một lần điều chỉnh. Chúng xảy ra vào các năm 1970, 1971, 1973-1974, 1977, 1979, 1980, 1981, 1984, 1987, 1989-1990, 1990, and 1997. Mức điều chình 10% có thể không ghê lắm nhu7nng nếu xem lại thế này: : Mùa hè 1998 chỉ số Dow leo lên 9,000 điểm. 10% của 9,000, sẽ là một con số khiến bạn phải mở mắt to: rớt 900 điểm.
Nguồn: DRI/McGraw-Hill, Fidelity Investments, 1998.
3.
Đáp án: D. 30.5%. Điều này ý nói gì? Đừng đề những tiêu đề báo chí làm bạn sợ hãi không dám mua cổ phiếu. Bạn hãy bám kế hoạch của mình trong suốt thời gian suy giảm, điều chỉnh hay thị trường con bò.
1990 là một năm khủng khiếp. Xe tăng của Saddam Hussein lăn bánh vào vào Kuwait. Nửa triệu lính Mỹ gợi tới vịnh Persian Gulf, cùng hàng túi chứa đồ. Ngân hàng, tiết kiệm, cho vay đều trên bờ vực đổ vỡ (on the ropes). Lạm phát, lãi suất ngày một tăng. Khi suy giảm bắt đầu, thì người dân bị mất việc. Những tin tức thảm hại, và nhà đầu tư thì lo sợ. Ở Wall Street, chỉ số Dow rớt hơn 21%, từ 3,000 lúc tháng 7 xuống 2,365 vào tháng 10. (21% nếu Dow sụt giảm trong mùa hè 1998 sẽ lớn hơn 1,800 đểm nhiều.)
Trái với những u tối năm 1990, 1991 là một năm tuyệt vời với cổ phiếu. Ấn tượng hơn, chỉ số S&P 500 đã liên tục tăng từ 30.5% năm 1991 nên gấp 3 lần năm 1998. Những người bám thị trường (market timers) mà không có chứng khoán đã bỏ lỡ khoảng 7 năm tăng trưởng lớn nhất trong lịch sử Mỹ hiện đại.
Nguồn: Bloomberg, Ibbotson Encorr, General Accounting Office, Fidelity Investments, 1998.
4.
Đáp án: A. Đúng. Đừng cố gắng tính toán thời điểm thị trường (time the market). Tính toán chi li, bạn bõ lỡ những lợi nhuận quan trọng. Nếu bạn đầu tư $1,000 vào S&P 500 năm 1978, 20 năm sau khoản đầu tư của bạn nhân lên $21,750. Tuy nhiên, nếu bạn nhảy ra khỏi thị trường trong thời điểm 15 tháng tốt nhất, $1,000 chỉ tăng lên có $6,010. Cái đó chỉ hơn Treasury bills một chút thôi.
Nguồn: Ibbotson Encorr, Fidelity Investments, 1998.
5.
Đáp án: A. Lựa chọn đúng quỹ là xem xét thứ hai. Một nghiên cứu học thuật về pension-plan managers cho thấy 91.5% sự khác biết giữa hiệu suất lợi nhuận một portfolio và một portfolio khác nằm ở việc phân bổ các tài sản. Vì thế việc bạn chia danh mục thanh cổ phiếu, trái phiếu, tiền mặt như thế nào là rất quan trọng. Hãy tìm sự phân chia phù hợp với mức chấp nhận rủi ro, và lịch trình bạn sẽ cần tiền. Một khi bạn có quyết định quan trọng đó, hãy chọn khoảng đầu tư riêng cho bạn và bám lấy kế hoạch của mình.
Nguồn: Brinson, Singer, and Beebower (Financial Analysts Journal/ May-June, 1991), Fidelity Investments, 1998.
6.
Đáp án: B. Sai. Lịch sử cho thấy giá cổ phiếu giảm khi bước vào khủng hoảng, nhưng sau đó phục hồi trước khi toàn bộ nền kinh tế phục hồi. Lý do giá cổ phiếu phục hồi sớm là do vài nhà đầu tư mong đợi vào sự tăng trưởng của lợi nhuận doanh nghiệp và bắt đầu mua thêm cổ phiếu. Tiềm năng lợi nhuận tăng lên ở thị trường cổ phiếu làm cho cổ phiếu có giá trị hơn, vì nhà đầu tư sẵn sàng trả giá cao hơn để được những lợi nhuận đó.
Trong suốt thời kỳ như vậy, những bàn tán ồn áo khó chịu, giá cổ phiếu thì ngày một xuống, lượng tin xấu từ phương tiện đại chúng, bạn bè, đồng nghiệp lại càng tăng. Họ luôn nhắc nhỏ bạn rằng suy giảm kinh tế suy giảm như thế nào. Đừng hoảng loạn. Háy bám lấy đầu tư cổ phiếu của mình. Và cùng tiến với nó.
Nguồn: Ibbotson Encorr, National Bureau of Economic Research, Fidelity Investments, 1998.
7.
Đáp án: A. Nhà đầutư cổ phiếu nhận được phần thưởng lớn trong suốt thập niên 1949-1959 khi mà S&P 500 đem lại lợi nhuận trung bình hàng năm là 21.4% từ tháng 6, 1949 đến tháng 5, 1959. Nền kinh tế phát triển nhanh vào thập niên 1950, trong khi lạm phát và lãi suất đều giữ ở mức thấp. Giá cổ phiếu rẻ, vào đầuthập niên, S&P 500 bán với P/E chỉ có 6. (Lo sợ một cuộc khủng hoảnh 1929-1939 lặp lại, nhiều nhà đầu tư không còn tin tưởng vào cổ phiếu và tránh xa chúng. Kết quả là cổ phiếu của những công ty lớn chỉ bán với giá gấp 6 lần lợi nhuận. chỉ bằng một nửa giá thông thường.)
Đây quả là sự kết hợp như mơ: nền kinh tế ổn định, lạm phát và lãi suất thấp, và giá cổ phiếu hời. $1,000 đầu tư tháng 6, 1949 tăng lên khoảng $6,970 vào tháng 5, 1959! Múc này cao hơn nhiều so với 10 năm 1988-1997, khi lợi nhuận bình qua6nha2ng năm là 18.9% ($1,000 tăng lên khoảng $5,670).
Những sự kiện chính của thập niên 6/1949-5/1959: xây dựng sau chiến tranh bùng nổ, giá cả hàng hóa cơ bản (commodities) cao hơn, việc làm bắt đầu trọng hệ thống liên bang, chiến tranh Korea War, khởi đầu chiến tranh lạnh. Lạm phát trung bình ở mức thấp 2%, trong khi sản lượng công nghiệp tăng gần 6%.
Nguồn: Ibbotson Encorr, Haver Analytics, DRI, Fidelity Investments, 1998.
8.
Đáp án: D. 3.0%. Trái phiếu đã tăng trưởng tốt khi thị trường cổ phiếu đổ vỡ -- thêm một lý do để nắm giữ chúng.
Tháng 10, 1987, được viết trong sách giáo khoa là ví dụ của "flight to quality" (bay đi tìm chất lượng) khi mà những nhà đầu tư sợ hãi tìm chỗ trú chân trong những trái phiếu và Treasury bills. Trái phiếu trở nên có giá trị hơn sau khi Fed giảm lãi suất xuống mức để tạo "thanh khoản" cho hệ thống ngân hàng. Tổng lợi nhuận đầu tư trái phiếu chính phủ dài hạn tháng đó là 6.2%.
Nguồn: Ibbotson Encorr, Fidelity Investments, 1998.
9.
Đáp án: A. Đúng. Công ty nhỏ lãi 12.7%/năm từ 1926 đến 1997, trong khi cổ phiếu cty lớn hơn lời có 11%. Tại sao cổ phiểu nhỏ (cổ phiếu cty nhỏ) lại tốt hơn? Những cỗ máy tài chính như Wal-Mart, Home Depot, Intel, và Microsoft khởi nghiệp từ những công ty nhỏ, rồi sau đó tăng dần lợi nhuận không ngừng cho đến khi họ trở thành những công ty lớn. Nhà đầu tư thamgia ngay từ đầu có thể được lợi từ 10, 20, thậm chí 100 lần. Đầu tư vào những công ty nhỏ thì mạo hiểm hơn đầu tư vào những cty lớn, bởi vì công ty nhỏ dễ bị tác động bời trì trệ kinh tế và giá cổ phiếu lên xuống rất mạnh.
Nguồn: Ibbotson Encorr, Fidelity Investments, 1998.
Những cty được nhắc tên chỉ là mục đích tham khảo, và không được xem là khuyến cáo, hay khuyến nghị nên đầu tư.
10.
Đáp án: E. Tất cả những nước trên. Mọi thị trườn nước ngoài kể trên để tăng trưởng tốt hơn, tính bằng dollars, thị trường Mỹ từ 31/12/1982 tới 31/12/1997. Nước tăng cao nhất là Netherlands (Hà Lan)
$1,000 đầu tư năm 1982 tăng lên $23,346 năm 1997.
Một vài thập niên sẽ tốt hơn(so với thập niên khác) đối với cổ phiếu quốc tế, nhưng nhà đầu tư dài hạn cũng nên suy xét chuyển dịch một phần tài sản ra nước ngoài. Bằng cách phân bổ 15% trong danh mục đầu tư của mình cho cổ phiếu quốc tế từ 1970-1997, bạn sẽ giảm biến động giá mà không sợ giảm lợi nhuận.
Luôn nhớ rằng cổ phiếu quốc tế không phải lúc nào cũng đi lên. Chúng cũng có điều chỉnh và thị trường con bò hệt như thị trường trong nước, Từ đỉnh 1989 tới 4/1998, thị trường Nhật Bản giảm hơn 50%. Nếu bạn đầu tư vào đó, dù bạn là người Nhật hay Mỹ, bạn cũng mất tiền. Nước Italy cũng mất gần 50% từ 1990-1992. Trong năm ngoái, Singpaore và Hong Kong giảm 50%, còn Malaysia rớt gần 75%.
Những thị trường mới nổi càng nhỏ thì lại càng thấy rủi ro cho nhà đầu tư hơn thị trường phát triển lớn hơn. Lựa chọn những nước tốt nhất không phải chuyện dễ, đó cũng là lý do tại sao tốt nhất nên đa dạng hóa danh mục đầu tư ở thị trường quốc tế.
Đầu tư nước ngoài sẽ có rủi ro lớn hơn ở Mỹ, gồm cả rủi ro về chính trí, kinh tế, và cả rùi ro về biến động tỷ giá ngoại tệ.
Nguồn: Morgan Stanley Capital International, Fidelity Investments, 1998.
Thứ Sáu, 16 tháng 10, 2009
Điều Kiện Để Nhận Vốn Mạo Hiểm
Ngày càng có nhiều người quan tâm đến đầu tư vốn mạo hiểm, do vậy đối với một nhà khởi nghiệp (entrepreneurs) thì việc hiểu rõ những điều kiện để mình có thể nhận được vốn mạo hiểm từ các công ty quản lý quỹ là rất quan trọng.

Danh sách dưới đây sẽ liệt kê những tiêu chuẩn mà một doanh nghiệp hay một nhóm kinh doanh muốn nhận vốn cần có để có thể trở thành ứng viên cho việc việc cấp vốn đầu tư. Rõ ràng không phải tất cả các doanh nghiệp/lĩnh vực kinh doanh phải thỏa mãn tất cả những yêu cầu, nhưng cần phải đạt phần lớn các tiêu chí:
- Quản lý bộ máy lãnh đạo của venture (đơn vị nhận vốn). Thể hiện bạn xây dựng đội ngũ làm việc đủ tiêu chuẩn, ban tư vấn, và ban giám đốc như thế nào.
- Sản phẩm thể hiện khía cạnh chủ đạo của kinh doanh khách hàng.
- Khách hàng có thể xác định và tiếp cận được.
- Có một thị trường nằm phía sau những khách hàng sử dụng đầu tiên. Tuy vậy, phần lớn các nhà khởi nghiệp lại thiếu nhưng nghiên cứu thị trường cần thiết. Do vậy, khi quỹ hỏi về thị trường thì chỉ trả lời chung chung là "thị trường lớn lắm", nhưng lại không rõ là lớn mức nào. Việc nghiên cứu thị trường không phải dễ dàng nhưng nói chung là hoàn toàn có thể. Cty quản lý quỹ thường tìm đội nhóm có thể chia nhỏ thị trường tổng thể để tách biệt cơ hội riêng của mình, củng cố nhận định của mình cho bên thứ 3 quan sát, và tập trung vào những mục tiêu cụ thể. Phải biết được kích cỡ thị trường, ai là đổi thủ lớn nhất, thị phần của họ là bao nhiêu, xu hướng phát triển của ngành lẫn các đối thủ, những vấn đề nào là lớn nhất mà ngành phải đương đầu. Công ty của bạn sẽ tương thích như thế nào. Hãy chuẩn bị liệt kê ra những vấn đề quan tâm của ngành.
- Khách hàng sẵn sàng thay đổi với những quy trình mua bán định sẵn.
- Hiểu quy trình bán hàng. Ai là người đưa ra quyết định? Những bên nào khác là then chốn trong quá trình đưa ra quyết định? Khi nào là thời điểm chính để bán hàng? Bán hàng theo mối quan hệ hay bán hàng hoá thông thường? Vậy cần biết cách truyền tải những phân tích chi tiết về lợi ích cho khách hàng.
- Có thể hiểu và nhận sự cộng tác mang tính đòn bẩy từ các công sự trong doanh nghiệp.
- Có thể hiểu và truyền tải những bước tiến quan trong trong những kế hoạch tiếp theo.
- Có mô hình kinh doanh khả thi với những biên (margins) trên mức trung bình. Giải thích mô hình tài chính chi tiết.
- Có sự hiều biết thầu đáo về môi trường và xu thế cạnh tranh. Nhiều quỹ yêu cầu kế hoạch kinh doanh phải có ma trận về cạnh tranh, một sự so sánh những khía cạnh liên quan của sản phẩm, dịch vụ tới những gải pháp thay thế từ những nguồn khác.
- Có thể độc quyền về sản phẩm, dịch vụ hoặc tài sản trí tuệ.
- Có một chiến lược đầu tư (gồm cả chiến lược thoái lui).
- Có một lợi thế cạnh tranh dù không công bằng.
- Có thể tiên đoán rằng khoản đầu tư sẽ tăng 10 lần sau 5-10 năm.
- Sử dụng một mô hình kế hoạch chiến lược; mô hình phải thể hiện tầm nhìn và sự thực thi của thị trường. Kế hoạch chiến lược phải có mốc định và thước đo để đo lường những bước tiến đó. Phác hoạ những rủi ro và giải thích tại sao bạn có thể vượt qua.
Ngược lại, một kế hoạch kinh doanh của một đội nhóm hay doanh nghiệp có thể bị lọc bỏ nhanh chóng vì một số nguyên nhân sau:
- Thiếu sự phân chia giá trị với cộng sự.
- Ban điều hành thiếu kinh nghiệm (ví dụ, không có ai đã từng có môt thành công tương tự)
- Kinh doanh theo kiểu ăn theo (me-too business), (ví dụ "tôi chỉ cần 1% thị trường thôi" )
- Đòi quá nhiều vốn, hoặc quá lâu để đưa sản phẩm ra thị trường.
- Thiếu kế hoạch, mô hình kinh doanh.
- Kế hoạch là chỉ cho ra một sản phẩm, chứ không phải là một doanh nghiệp (không thương mại hoá).
- Kế hoạch đầu tư/cấp vốn thiếu thực tế.
- Chưa đánh giá được sự cạnh tranh đúng mức.
- Không hiểu quá trình bán hàng.
- Thiếu trung thực.
Tiếp theo dưới đây là danh sách những nhân tố bổ sung mà các cty cấp vốn (venture capitalists) thường nhắc tới như là yếu tố quan trọng để đầu tư. Tầm quan trọng xếp theo thứ tự từ trên xuống:
- Ban điều hành có khả năng nỗ lực cố gắng hết mình.
- Ban điều hành hoàn toàn nắm rõ/quen thuộc với thị trường.
- Ban điều hành có khả năng lãnh đạo ấn tượng.
- Ban điều hành có thể ước định và xử lý tốt khi có có rủi ro.
- Có phương án cho trường hợp thoái đầu tư.
- Thị trường phát triển mạnh.
- Ban điều hành có một bảng đánh giá theo dõi liên quan đến venture.
- Ban diều hành diễn thuyết tốt.
Nếu bạn có thể hiểu thấu và phát huy từ ba phần trên, thì bạn sẽ có rất nhiều cơ hội để nhận được vốn. Chúc bạn thành công.
Danh sách dưới đây sẽ liệt kê những tiêu chuẩn mà một doanh nghiệp hay một nhóm kinh doanh muốn nhận vốn cần có để có thể trở thành ứng viên cho việc việc cấp vốn đầu tư. Rõ ràng không phải tất cả các doanh nghiệp/lĩnh vực kinh doanh phải thỏa mãn tất cả những yêu cầu, nhưng cần phải đạt phần lớn các tiêu chí:
- Quản lý bộ máy lãnh đạo của venture (đơn vị nhận vốn). Thể hiện bạn xây dựng đội ngũ làm việc đủ tiêu chuẩn, ban tư vấn, và ban giám đốc như thế nào.
- Sản phẩm thể hiện khía cạnh chủ đạo của kinh doanh khách hàng.
- Khách hàng có thể xác định và tiếp cận được.
- Có một thị trường nằm phía sau những khách hàng sử dụng đầu tiên. Tuy vậy, phần lớn các nhà khởi nghiệp lại thiếu nhưng nghiên cứu thị trường cần thiết. Do vậy, khi quỹ hỏi về thị trường thì chỉ trả lời chung chung là "thị trường lớn lắm", nhưng lại không rõ là lớn mức nào. Việc nghiên cứu thị trường không phải dễ dàng nhưng nói chung là hoàn toàn có thể. Cty quản lý quỹ thường tìm đội nhóm có thể chia nhỏ thị trường tổng thể để tách biệt cơ hội riêng của mình, củng cố nhận định của mình cho bên thứ 3 quan sát, và tập trung vào những mục tiêu cụ thể. Phải biết được kích cỡ thị trường, ai là đổi thủ lớn nhất, thị phần của họ là bao nhiêu, xu hướng phát triển của ngành lẫn các đối thủ, những vấn đề nào là lớn nhất mà ngành phải đương đầu. Công ty của bạn sẽ tương thích như thế nào. Hãy chuẩn bị liệt kê ra những vấn đề quan tâm của ngành.
- Khách hàng sẵn sàng thay đổi với những quy trình mua bán định sẵn.
- Hiểu quy trình bán hàng. Ai là người đưa ra quyết định? Những bên nào khác là then chốn trong quá trình đưa ra quyết định? Khi nào là thời điểm chính để bán hàng? Bán hàng theo mối quan hệ hay bán hàng hoá thông thường? Vậy cần biết cách truyền tải những phân tích chi tiết về lợi ích cho khách hàng.
- Có thể hiểu và nhận sự cộng tác mang tính đòn bẩy từ các công sự trong doanh nghiệp.
- Có thể hiểu và truyền tải những bước tiến quan trong trong những kế hoạch tiếp theo.
- Có mô hình kinh doanh khả thi với những biên (margins) trên mức trung bình. Giải thích mô hình tài chính chi tiết.
- Có sự hiều biết thầu đáo về môi trường và xu thế cạnh tranh. Nhiều quỹ yêu cầu kế hoạch kinh doanh phải có ma trận về cạnh tranh, một sự so sánh những khía cạnh liên quan của sản phẩm, dịch vụ tới những gải pháp thay thế từ những nguồn khác.
- Có thể độc quyền về sản phẩm, dịch vụ hoặc tài sản trí tuệ.
- Có một chiến lược đầu tư (gồm cả chiến lược thoái lui).
- Có một lợi thế cạnh tranh dù không công bằng.
- Có thể tiên đoán rằng khoản đầu tư sẽ tăng 10 lần sau 5-10 năm.
- Sử dụng một mô hình kế hoạch chiến lược; mô hình phải thể hiện tầm nhìn và sự thực thi của thị trường. Kế hoạch chiến lược phải có mốc định và thước đo để đo lường những bước tiến đó. Phác hoạ những rủi ro và giải thích tại sao bạn có thể vượt qua.
Ngược lại, một kế hoạch kinh doanh của một đội nhóm hay doanh nghiệp có thể bị lọc bỏ nhanh chóng vì một số nguyên nhân sau:
- Thiếu sự phân chia giá trị với cộng sự.
- Ban điều hành thiếu kinh nghiệm (ví dụ, không có ai đã từng có môt thành công tương tự)
- Kinh doanh theo kiểu ăn theo (me-too business), (ví dụ "tôi chỉ cần 1% thị trường thôi" )
- Đòi quá nhiều vốn, hoặc quá lâu để đưa sản phẩm ra thị trường.
- Thiếu kế hoạch, mô hình kinh doanh.
- Kế hoạch là chỉ cho ra một sản phẩm, chứ không phải là một doanh nghiệp (không thương mại hoá).
- Kế hoạch đầu tư/cấp vốn thiếu thực tế.
- Chưa đánh giá được sự cạnh tranh đúng mức.
- Không hiểu quá trình bán hàng.
- Thiếu trung thực.
Tiếp theo dưới đây là danh sách những nhân tố bổ sung mà các cty cấp vốn (venture capitalists) thường nhắc tới như là yếu tố quan trọng để đầu tư. Tầm quan trọng xếp theo thứ tự từ trên xuống:
- Ban điều hành có khả năng nỗ lực cố gắng hết mình.
- Ban điều hành hoàn toàn nắm rõ/quen thuộc với thị trường.
- Ban điều hành có khả năng lãnh đạo ấn tượng.
- Ban điều hành có thể ước định và xử lý tốt khi có có rủi ro.
- Có phương án cho trường hợp thoái đầu tư.
- Thị trường phát triển mạnh.
- Ban điều hành có một bảng đánh giá theo dõi liên quan đến venture.
- Ban diều hành diễn thuyết tốt.
Nếu bạn có thể hiểu thấu và phát huy từ ba phần trên, thì bạn sẽ có rất nhiều cơ hội để nhận được vốn. Chúc bạn thành công.
Thứ Năm, 15 tháng 10, 2009
Quỹ Exchange Traded Fund (ETFs)
Còn nhớ tháng 8, một quỹ ETF Market Vectors Vietnam Index(MVVNM) lần đầu tiên niêm yết trên thị trường chứng khoán Mỹ (NYSE Arca).
Vietnam Holding
Vietnam Equity Holding
Indochina Capital Vietnam Hldgs
Vinacapital Vietnam Opp. Fund
DWS Vietnam Fund
...
Lợi ích của quỹ ETF:
- Sử dụng hiệu quả phương pháp đa dạng hoá danh mục đầu tư
Trong trường hợp của Market Vectors Vietnam, Van Eck global, công ty quản lý của quỹ này, đã mua 32 cổ phiếu các loại (tính đến 13 tháng 10).
10 cổ phiếu chính:

Xem tất cả
Để ý rằng một vài cổ phiểu trong portfolio không phải là cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
- Việc mua bán cũng dễ dàng như mua cổ phiếu
- Một vài quỹ biến động theo Index nên quản trị rủi ro dễ dàng hơn
Theo quy tắc của MV VNM thì tiểu chuẩn chọn vào quỹ bao gồm a) cty có nhà xưởng hoặc được niêm yết chính ở Việt Nam b) tạo ra ít nhất 50% lợi nhuận ở Việt Nam c) vị thế quan trọng hoặc thống trị ở Việt Nam.
- Danh mục cầu thành rõ ràng, và thông tin công bố mọi lúc
- Ít chi phí điều hành
- Ở một số nơi, lợi nhuận đánh thuế thấp.
Và điểm bất lợi:
- Một vài nước chỉ có một số ít các index (so với Mỹ). Ở Việt Nam, hiện chỉ có 3 Index là VN Index, HNX Index, và UpCom Index. Ngoài ra, tôi để ý thấy CK Biển Việt có phát triển một bộ indexes (Vietnam Securities Indexes - tên cũ CBV Index)
- Khả năng cho phép giao dịch trong ngày (ở thị trường nước ngoài) không có ý nghĩa lắm cho nhà đầu tư dài hạn.
- ETFs có lượng giao dịch thấp thì có chênh lêch đặt giá mua bán (bid ask spread) cao.
- Nhà đầu tư lớn có thể chọn cách đầu tư trực tiếp thay vì thông qua ETFs để giảm chi phí hay thuế.
- Một điểm nưa tôi thấy từ vụ các nhà đầu tư buộc quỹ của Indochina Capital thoái vốn sớm: quỹ có thể giải thể sớm khi nhà đầ tư nắm được đủ lượng chứng chỉ quỹ bỏ phiếu.
Cách chọn mua quỹ ETFs
- Tỉ lệ chi phí: Phần trăm lợi nhuận của quỹ sẽ bị chia bớt bởi phí điều hành. Một lời khuyên là chọn quỹ có phí điều hành không quá 1%. Dưới hoặc gần 1% là hợp lí cho loại quỹ này.
- Được xếp hạng cao: Những công ty như Morningstar thường xếp hạng các quỹ. Vì thế dĩ nhiên nên loại bỏ các quỹ đánh giá thấp.
- Thời gian kinh nghiệm quản lý của giám đốc quỹ: Một quỹ ETF thì không quá quan trọng vấn đề này. Tuy vậy đây cũng là thước đo đánh giá sự ổn định của quỹ. Vậy nên loại quỹ nào có kinh nghiệm quá thấp như dưới 1 năm.
- Thành tích trước đây: Xem lại hiệu năng của quỹ so với index trong vòng 5 năm. Nếu quỹ bám theo Index tốt và cao hơn một chút là tốt. Nếu lợi nhuận quỹ nhỏ hơn cả index thì nên loại bỏ ngay.
- So sánh với các quỹ có danh mục tương tự. Nếu quỹ lớn hơn trung bình của nhóm thì đó là khoản đầu tư tốt.
Trên đây là một vài kiến thức cơ bản.
Quỹ Exchange Traded Funds (ETF) là loại quỹ đặc biệt đầu tư vào cổ phiếu hay trái phiếu để có thể mô phỏng theo diễn biến thị trường của một loại index nào đó.Trước đó có nhiều quỹ của Việt Nam niếm yết ở thị trường nước ngoài (London, Hamburg) hoạt động gần giống như ETFs nhưng không được xếp vào nhóm này như:
Vietnam Holding
Vietnam Equity Holding
Indochina Capital Vietnam Hldgs
Vinacapital Vietnam Opp. Fund
DWS Vietnam Fund
...
Lợi ích của quỹ ETF:
- Sử dụng hiệu quả phương pháp đa dạng hoá danh mục đầu tư
Trong trường hợp của Market Vectors Vietnam, Van Eck global, công ty quản lý của quỹ này, đã mua 32 cổ phiếu các loại (tính đến 13 tháng 10).
10 cổ phiếu chính:
Xem tất cả
Để ý rằng một vài cổ phiểu trong portfolio không phải là cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
- Việc mua bán cũng dễ dàng như mua cổ phiếu
- Một vài quỹ biến động theo Index nên quản trị rủi ro dễ dàng hơn
Theo quy tắc của MV VNM thì tiểu chuẩn chọn vào quỹ bao gồm a) cty có nhà xưởng hoặc được niêm yết chính ở Việt Nam b) tạo ra ít nhất 50% lợi nhuận ở Việt Nam c) vị thế quan trọng hoặc thống trị ở Việt Nam.
- Danh mục cầu thành rõ ràng, và thông tin công bố mọi lúc
- Ít chi phí điều hành
- Ở một số nơi, lợi nhuận đánh thuế thấp.
Và điểm bất lợi:
- Một vài nước chỉ có một số ít các index (so với Mỹ). Ở Việt Nam, hiện chỉ có 3 Index là VN Index, HNX Index, và UpCom Index. Ngoài ra, tôi để ý thấy CK Biển Việt có phát triển một bộ indexes (Vietnam Securities Indexes - tên cũ CBV Index)
- Khả năng cho phép giao dịch trong ngày (ở thị trường nước ngoài) không có ý nghĩa lắm cho nhà đầu tư dài hạn.
- ETFs có lượng giao dịch thấp thì có chênh lêch đặt giá mua bán (bid ask spread) cao.
- Nhà đầu tư lớn có thể chọn cách đầu tư trực tiếp thay vì thông qua ETFs để giảm chi phí hay thuế.
- Một điểm nưa tôi thấy từ vụ các nhà đầu tư buộc quỹ của Indochina Capital thoái vốn sớm: quỹ có thể giải thể sớm khi nhà đầ tư nắm được đủ lượng chứng chỉ quỹ bỏ phiếu.
Cách chọn mua quỹ ETFs
- Tỉ lệ chi phí: Phần trăm lợi nhuận của quỹ sẽ bị chia bớt bởi phí điều hành. Một lời khuyên là chọn quỹ có phí điều hành không quá 1%. Dưới hoặc gần 1% là hợp lí cho loại quỹ này.
- Được xếp hạng cao: Những công ty như Morningstar thường xếp hạng các quỹ. Vì thế dĩ nhiên nên loại bỏ các quỹ đánh giá thấp.
- Thời gian kinh nghiệm quản lý của giám đốc quỹ: Một quỹ ETF thì không quá quan trọng vấn đề này. Tuy vậy đây cũng là thước đo đánh giá sự ổn định của quỹ. Vậy nên loại quỹ nào có kinh nghiệm quá thấp như dưới 1 năm.
- Thành tích trước đây: Xem lại hiệu năng của quỹ so với index trong vòng 5 năm. Nếu quỹ bám theo Index tốt và cao hơn một chút là tốt. Nếu lợi nhuận quỹ nhỏ hơn cả index thì nên loại bỏ ngay.
- So sánh với các quỹ có danh mục tương tự. Nếu quỹ lớn hơn trung bình của nhóm thì đó là khoản đầu tư tốt.
Trên đây là một vài kiến thức cơ bản.
Thứ Hai, 12 tháng 10, 2009
Chiến Lược Mua và Nắm Giữ (Buy And Hold) Mất Sự Tin Cậy
Trong khi nhiều nhà tư vấn tài chính (financial advisers) vẫn tiếp tục với chiến lược đầu tư mua và nắm giữ (buy-and-hold) thì số khác tỏ vẻ nghi ngờ sự hiểu quả của cách đầu tư này.

Theo cuộc điều tra 2009 Industry Attitudes survey của InvestmentNews về các nhà tư vấn tài chính cho thấy một xu hướng thay đổi trong việc lựa chọn chiến lược đầu tư.
Survey này có trên 700 người trả lời:
12.5% không còn tin vào đầu tư kiểu nắm và giữ;
49.6% nói rằng họ sẽ nhanh chân hơn để thay đổi wholesale portfolio với những điều kiện nhất định;
37.8% nói rằng họ sẽ sẵn sàng hơn để bán chứng khoán khi chúng đạt được mức giá mong muốn.
Khi hỏi về việc thị trường đi xuống có ảnh hưởng đến sản phẩm, dịch vụ tư vấn:
Chỉ 14% nói sẽ bảo thủ hơn;
Chỉ 12% nói sẽ đơn giảm hóa các chiến lược với những khoản đầu tư plain-vanilla (tạm gọi đầu tư đơn thuần);
80% thì nói kinh tế suy thoái làm họ trở thành tư vấn tốt hơn.
Có thể thấy các nhà tư vấn đang chuyển hướng sang đầu tư năng động hơn.
Những tranh cãi về chiến lược đầu tư mua và năm giữ không phải giờ mới bắt đầu. Warren Buffett là nhà đầu tư vĩ đại thành công với chiến thuật nắm và giữ. Song, trong năm 2008 ông cũng lỗ khoảng 9.6 tỉ USD theo giá trị sổ sách (thông tin Buffett tiết lộ trong annual report là giá trị của Berkshire giảm 9.6%). 2008 là năm tồi tệ cho cả giới tài chính nên dễ hiểu điều này ảnh hưởng đến tấm lý hoài nghi về sự hiệu quả của chiến thuật mua và nắm giữ.
Tôi thì cho rằng không phải ai cũng hoàn hảo. Ngay cả việc mua cổ phiếu của Goldman Sachs thì năm 2009 tính ra cũng đã mang lại lợi nhuận cho Buffett.
Mặc dù vậy, tôi vẫn thích một kiểu đầu tư năng động hơn, vì dù sao buy-and-hold cũng là đầu tư thụ động. Thụ động quá thì sẽ bất lợi khi thị trường đi xuống, và khi lên nhanh quá thì lại dẫn đến tham lam không thoát kịp khi thị trường điều chỉnh. Quan trọng vẫn là xác định thời điểm.
Một thông tin khác từ Financial Times, tỉ phú George Soros cũng sẽ đầu tư 1 tỷ USD vào công nghệ xanh, dĩ nhiên là cái nhìn dài hạn. Trước đây, Warren Buffett và Bill Gates cũng đã đầu tư vào các công ty xử lý chất thải.
Theo cuộc điều tra 2009 Industry Attitudes survey của InvestmentNews về các nhà tư vấn tài chính cho thấy một xu hướng thay đổi trong việc lựa chọn chiến lược đầu tư.
Survey này có trên 700 người trả lời:
12.5% không còn tin vào đầu tư kiểu nắm và giữ;
49.6% nói rằng họ sẽ nhanh chân hơn để thay đổi wholesale portfolio với những điều kiện nhất định;
37.8% nói rằng họ sẽ sẵn sàng hơn để bán chứng khoán khi chúng đạt được mức giá mong muốn.
Khi hỏi về việc thị trường đi xuống có ảnh hưởng đến sản phẩm, dịch vụ tư vấn:
Chỉ 14% nói sẽ bảo thủ hơn;
Chỉ 12% nói sẽ đơn giảm hóa các chiến lược với những khoản đầu tư plain-vanilla (tạm gọi đầu tư đơn thuần);
80% thì nói kinh tế suy thoái làm họ trở thành tư vấn tốt hơn.
Có thể thấy các nhà tư vấn đang chuyển hướng sang đầu tư năng động hơn.
Những tranh cãi về chiến lược đầu tư mua và năm giữ không phải giờ mới bắt đầu. Warren Buffett là nhà đầu tư vĩ đại thành công với chiến thuật nắm và giữ. Song, trong năm 2008 ông cũng lỗ khoảng 9.6 tỉ USD theo giá trị sổ sách (thông tin Buffett tiết lộ trong annual report là giá trị của Berkshire giảm 9.6%). 2008 là năm tồi tệ cho cả giới tài chính nên dễ hiểu điều này ảnh hưởng đến tấm lý hoài nghi về sự hiệu quả của chiến thuật mua và nắm giữ.
Tôi thì cho rằng không phải ai cũng hoàn hảo. Ngay cả việc mua cổ phiếu của Goldman Sachs thì năm 2009 tính ra cũng đã mang lại lợi nhuận cho Buffett.
Mặc dù vậy, tôi vẫn thích một kiểu đầu tư năng động hơn, vì dù sao buy-and-hold cũng là đầu tư thụ động. Thụ động quá thì sẽ bất lợi khi thị trường đi xuống, và khi lên nhanh quá thì lại dẫn đến tham lam không thoát kịp khi thị trường điều chỉnh. Quan trọng vẫn là xác định thời điểm.
Một thông tin khác từ Financial Times, tỉ phú George Soros cũng sẽ đầu tư 1 tỷ USD vào công nghệ xanh, dĩ nhiên là cái nhìn dài hạn. Trước đây, Warren Buffett và Bill Gates cũng đã đầu tư vào các công ty xử lý chất thải.
Thứ Ba, 25 tháng 8, 2009
Đặc điểm của nhà Đầu tư Vĩ đại
Video này nằm trong một hội thảo tên "Principal Investment Conference" của trường Stanford Graduate School Of Business.
Người trình bày là Thomas Barrack, sáng lập, chủ tịch và CEO của Colony Capital nói về đặc điểm của một nhà đầu tư vĩ đại.
Video này dài 53 phút nên nếu bạn quan tâm, có thể download xem lại sau
Tips: dùng công cụ http://www.dlflv.com/ hay http://keepvid.com/
Youtube URL: http://www.youtube.com/watch?v=YnqoA-vAbRs
Riêng Slideshow mà ông này trình bày mình có ghi chú lại để bạn tiện theo dõi.
Characteristics of a Great Investor
Characteristics of a Big Wave Surfer
- Once you have graduated to big waves, everyone is great, conditional, experienced, talented, and capable
--> Consequently, to distinguish yourself from your peers you must add something: more preparation, harder work, more honed instincts, quicker risk evaluation, greater risk tolerance
- Terror can be your greatest enemy or your best ally
- Knows exactly where to exit before he enters
- Doesn't panic in a wipeout and doesn't flight the current
- It is about "taking risk" not "avoiding risk"
- Standing on the board is the easy part - being in the right position for the takeoff is everything
- Evaluatees by instinct: the current, the height of the swell, the wind, the tide, the temperature, the direction of the swell, the coral reef bottoms, the peak, the trough, the time between sets, the impact zone and the position and experience level of the other surfers in the water
--> Anticipation!!!
- Commitment: "lmua" - once the decision is made to paddle into the face of three story building, you go
--> commit - no hesitation, no slow down, no second guessing
- Humility trumps, arrogance
- Avoids crowded take-offs and amateurs
- Adaptability and Cultural 6th Sense
- Understands that his choice of waves not to ride is as important as his coice of waves to ride
- Is prepared for the worst circumstance in the worst condition
- Shows respect to all those around him
- Demands respect from all those around him
- Manages his "comfort zone" - extend too much you are dead: extend too little you are dead
Characteristics of a Great Investor
Opportumistic vs. Strategic
"The problem is that our ideas are sticky: once we produce a theory, we are not likely to change our minds - so those who delay developing their theories are better off... Two mechanisms are at play here:
the confirmation bias..and the belief in perseverance, the tendency not to reverse opinions you already have. Remember that we treat ideals like possessions, and it will be hard for us to part with them."
- Nassim Nicholas Taleb,
"The Black Swan"
- Loyalty to ideas is a bad thing - you get stuck in your point of view
--> You formulate the idea in a test tube and then go out into the world to see f it exists
- An event which proves a theory inaccurate should be used as an opportunity, not a dilemma
- Extraordinary returns are minted in macro moments
- Ability to adapt and reverse your opinion in an instant is essential
- Thinking outside the box is not enough - you must live outside the box
--> Your instincts will be more honed by experiencing all the aspects of life that seem totally irrelevant to your prime business purpose - this will give you a unique texture to your box
- Preparation, preparation, preparation
- Good investors search for things they know but have the freedom of thought to be amused by what they don't know
- Lay long lines - breed contacts and relationships when you don't need them
- The Karma Bank works - just not necessarily at the moment you would like it
--> Character and integrity are a lifestyle, not attributes
- Totally and quickly accessible to all
- Reliance on too much education can reduce your risk tolerance, numb your nerve-endings, and commonize your entrepreneurial skills
- After a great education you need to retrain yourself togo to the edge
"DO IT NOW!"
The information you have is not the information you want
The information you want is not the information you need
The information you need is not the information you can get
The information you can get everyone already has
Observations
Tipping point
- Troubled securitizations are looking for the exit but it is unclear who the counterparties are, what the special servicer can do, and with whom one should restructure
--> You will need Google Earth to find a counterparty
- Many investment banks' securitization groups will disappear and become minimalized
- Writedowns will begin percolating up from:
--> Subprime mortgages to near-prime and prime mortgages, commercial real estate mortgages, auto loans, credit cards, corporate buyout loans, corporate bonds, and derivatives
- Rating agencies were coach and referee - Bond Insurers were the Scalpers - regulatory capital arbitrage between capital requirements of bond insurers and capital requirements of banks
- Bond insurer dilemma will cause an avalanche of downgrades
--> Buffet's offer would simply take the baby (muni bond portfolio) and leave the dirty bathwater (CDO portfolio)
- There will be a continued litany of horribles which will follow the meltdowns of rated securities, rating agencies, rating inaurera, and the banks providing liquidity facilities to them
- Private Equity which bought companies at a 20-30% premium anticipating EBITDA expansion, leveraged at 5x, and now experiencing 20% stock market evaporation will have some challenges in debt and equity
- Repricing crisis could be in the trillions, not billions - accountants and accounting rules will play a major part
--> We will soon find out if "Fair Value" accounting is fair
- Decoupling - It is a myth and the world will follow us into a slowdown and dog out including China and Japan
--> The world will be praying for "recoupling"
Conclusions
Where Are the Opportunities?
- US may be the best place to prospect for "long" emerging opportunities - volatility, lack of transparency, confusion, over-leverage, lack of homogeneity in products,long-term stability, and government intervention - but it is still too soon
--> Fiscal intervention, Fed cuts, Project Lifeline only postpone and aggravate the inevitable
--> The market will clear when allowed to find its own bottom
- Best place to prospect for "short" emerging market opportunities is in countries that believe they are decoupled from this mess
--> Keep an eye in China, Japan, and Korea
- Best place to prospect for "normalized" investments with growth characteristics on a risk-adjusted basis maybe parts of the Middle East and Russia - India and China challenging at this point
- Everyone will need infrastructure money as traditional project finance sources atrophy - Municipal Bond Crisis maybe around the corner - $2.7 trillion of guaranteed municipal debt
- General economy is actually quite good - what we're experiencing is a financial Pac Man virus
All Excesses return to the mean ... but they first return to the opposite Excess before swinging back tot he mean ... the early bird gets ... SHOT
- General Philosophy
--> Wild, Wild West is now the East
--> Scalability of investing large amounts is the challenge
--> Long global blue chips and emerging markets, but when? - short until then
--> One-off opportunities are too complex and time consuming - those that control the pipeline will control the opportunity
- The Parade Has Not Yet Begun
--> The parade of horribles is forming - impending distress and follow-on inflation is the "quantum leap" investment opportunity of the decade
--> Defaults in corporate bonds, CMBS, RMBS, CLO's, auto loans, credit card loans, and counterparty guarantees have not yet started - they are in the middle of a waterfall which is starting to trickle
- March 31st will be the Ides Of March
Người trình bày là Thomas Barrack, sáng lập, chủ tịch và CEO của Colony Capital nói về đặc điểm của một nhà đầu tư vĩ đại.
Video này dài 53 phút nên nếu bạn quan tâm, có thể download xem lại sau
Tips: dùng công cụ http://www.dlflv.com/ hay http://keepvid.com/
Youtube URL: http://www.youtube.com/watch?v=YnqoA-vAbRs
Riêng Slideshow mà ông này trình bày mình có ghi chú lại để bạn tiện theo dõi.
Characteristics of a Great Investor
Characteristics of a Big Wave Surfer
- Once you have graduated to big waves, everyone is great, conditional, experienced, talented, and capable
--> Consequently, to distinguish yourself from your peers you must add something: more preparation, harder work, more honed instincts, quicker risk evaluation, greater risk tolerance
- Terror can be your greatest enemy or your best ally
- Knows exactly where to exit before he enters
- Doesn't panic in a wipeout and doesn't flight the current
- It is about "taking risk" not "avoiding risk"
- Standing on the board is the easy part - being in the right position for the takeoff is everything
- Evaluatees by instinct: the current, the height of the swell, the wind, the tide, the temperature, the direction of the swell, the coral reef bottoms, the peak, the trough, the time between sets, the impact zone and the position and experience level of the other surfers in the water
--> Anticipation!!!
- Commitment: "lmua" - once the decision is made to paddle into the face of three story building, you go
--> commit - no hesitation, no slow down, no second guessing
- Humility trumps, arrogance
- Avoids crowded take-offs and amateurs
- Adaptability and Cultural 6th Sense
- Understands that his choice of waves not to ride is as important as his coice of waves to ride
- Is prepared for the worst circumstance in the worst condition
- Shows respect to all those around him
- Demands respect from all those around him
- Manages his "comfort zone" - extend too much you are dead: extend too little you are dead
Characteristics of a Great Investor
Opportumistic vs. Strategic
"The problem is that our ideas are sticky: once we produce a theory, we are not likely to change our minds - so those who delay developing their theories are better off... Two mechanisms are at play here:
the confirmation bias..and the belief in perseverance, the tendency not to reverse opinions you already have. Remember that we treat ideals like possessions, and it will be hard for us to part with them."
- Nassim Nicholas Taleb,
"The Black Swan"
- Loyalty to ideas is a bad thing - you get stuck in your point of view
--> You formulate the idea in a test tube and then go out into the world to see f it exists
- An event which proves a theory inaccurate should be used as an opportunity, not a dilemma
- Extraordinary returns are minted in macro moments
- Ability to adapt and reverse your opinion in an instant is essential
- Thinking outside the box is not enough - you must live outside the box
--> Your instincts will be more honed by experiencing all the aspects of life that seem totally irrelevant to your prime business purpose - this will give you a unique texture to your box
- Preparation, preparation, preparation
- Good investors search for things they know but have the freedom of thought to be amused by what they don't know
- Lay long lines - breed contacts and relationships when you don't need them
- The Karma Bank works - just not necessarily at the moment you would like it
--> Character and integrity are a lifestyle, not attributes
- Totally and quickly accessible to all
- Reliance on too much education can reduce your risk tolerance, numb your nerve-endings, and commonize your entrepreneurial skills
- After a great education you need to retrain yourself togo to the edge
"DO IT NOW!"
The information you have is not the information you want
The information you want is not the information you need
The information you need is not the information you can get
The information you can get everyone already has
Observations
Tipping point
- Troubled securitizations are looking for the exit but it is unclear who the counterparties are, what the special servicer can do, and with whom one should restructure
--> You will need Google Earth to find a counterparty
- Many investment banks' securitization groups will disappear and become minimalized
- Writedowns will begin percolating up from:
--> Subprime mortgages to near-prime and prime mortgages, commercial real estate mortgages, auto loans, credit cards, corporate buyout loans, corporate bonds, and derivatives
- Rating agencies were coach and referee - Bond Insurers were the Scalpers - regulatory capital arbitrage between capital requirements of bond insurers and capital requirements of banks
- Bond insurer dilemma will cause an avalanche of downgrades
--> Buffet's offer would simply take the baby (muni bond portfolio) and leave the dirty bathwater (CDO portfolio)
- There will be a continued litany of horribles which will follow the meltdowns of rated securities, rating agencies, rating inaurera, and the banks providing liquidity facilities to them
- Private Equity which bought companies at a 20-30% premium anticipating EBITDA expansion, leveraged at 5x, and now experiencing 20% stock market evaporation will have some challenges in debt and equity
- Repricing crisis could be in the trillions, not billions - accountants and accounting rules will play a major part
--> We will soon find out if "Fair Value" accounting is fair
- Decoupling - It is a myth and the world will follow us into a slowdown and dog out including China and Japan
--> The world will be praying for "recoupling"
Conclusions
Where Are the Opportunities?
- US may be the best place to prospect for "long" emerging opportunities - volatility, lack of transparency, confusion, over-leverage, lack of homogeneity in products,long-term stability, and government intervention - but it is still too soon
--> Fiscal intervention, Fed cuts, Project Lifeline only postpone and aggravate the inevitable
--> The market will clear when allowed to find its own bottom
- Best place to prospect for "short" emerging market opportunities is in countries that believe they are decoupled from this mess
--> Keep an eye in China, Japan, and Korea
- Best place to prospect for "normalized" investments with growth characteristics on a risk-adjusted basis maybe parts of the Middle East and Russia - India and China challenging at this point
- Everyone will need infrastructure money as traditional project finance sources atrophy - Municipal Bond Crisis maybe around the corner - $2.7 trillion of guaranteed municipal debt
- General economy is actually quite good - what we're experiencing is a financial Pac Man virus
All Excesses return to the mean ... but they first return to the opposite Excess before swinging back tot he mean ... the early bird gets ... SHOT
- General Philosophy
--> Wild, Wild West is now the East
--> Scalability of investing large amounts is the challenge
--> Long global blue chips and emerging markets, but when? - short until then
--> One-off opportunities are too complex and time consuming - those that control the pipeline will control the opportunity
- The Parade Has Not Yet Begun
--> The parade of horribles is forming - impending distress and follow-on inflation is the "quantum leap" investment opportunity of the decade
--> Defaults in corporate bonds, CMBS, RMBS, CLO's, auto loans, credit card loans, and counterparty guarantees have not yet started - they are in the middle of a waterfall which is starting to trickle
- March 31st will be the Ides Of March
Thứ Sáu, 21 tháng 8, 2009
Quy tắc đầu tư của Soros và Buffett
Một nhà đầu tư lão luyện
1. Tin rằng ưu tiêu trước hết là bảo toàn vốn
2. Vì thế, là người ngại rủi ro.
3. Phát triển triết lý đầu tư của riêng mình, điều này thể hiện cá tính. Kết quả là, không có 2 người cùng thành công có cách tiếp cận giống nhau.
4. Phát triển một hệ thống riêng để lựa chọn, mua và bán các khoản đầu tư.
5. Tin rằng đa dạng hóa danh mục thì chỉ vô dụng.
6. Ghét phải trả thuế, và sắp xếp công việc làm ăn để giảm thiếu hóa đơn thuế ma vẫn tuân theo pháp luật.
7. Chỉ đầu tư những gì anh ta hiểu.
8. Từ chối đầu tư mà không đạt tiêu chuẩn. Có thể gắng sức để nói 'không'.
9. Luôn tìm kiếm những cơ hội đầu tư mới mà đạt tiêu chuẩn và luôn năng động tham gia nghiên cứu phân tích.
10. Có sự kiên nhẫn để chờ đợi cho đến khi tìm thấy khoản đầu tư thích hợp.
11. Làm ngay khi đã quyết định.
12. Năm giữ các khoản đầu tư thắng lợi cho đến khi xuất những lý do có thể tiên định để rút lui.
13. Luôn tuân theo hệ thống của riêng mình.
14. Luôn cảnh giác với khả năng mắc sai lầm của mình. Sửa lỗi ngay khi có.
15. Luôn xem sai lầm là kinh nghiệm học tập.
16. Kinh nghiệm tăng thì lợi nhuận cũng tăng.
17. Hầu như không bao giờ nói với ai về những gì anh ta đang làm. Không quan tâm người khác nghĩ gì về quyết định đầu tư của mình.
18. Chuyễn giao thành công hầu hết, nếu không nói là tất cả, trách nhiệm của mình cho người khác.
19. Sống giản dị hơn những gì anh ta có.
20. Làm mọi việc vì khích lệ và hoàn thiện bản thân - không phải vì tiền.
21. Cảm tính khi tham gia quá trình đầu tư; nhưng có thể bỏ lơ bất kì khoản đầu tư cá nhân nào.
22. Sống và thở đầu tư, 24 giờ mỗi ngày.
23. Bỏ tiền vào chỗ cái miệng anh ta. Ví dụ, Warren Buffett có 99 % net worth dưới dạng cổ phiếu Berkshire Hathaway; George Soros, cũng tương tự như vậy, bỏ hầu hết tiền vào Quantum Fund. Cả hai, số phận của đồng tiền của họ cũng giống như của những người tin tưởng bỏ tiền để họ quản lý.
Mark Tier, St. Martin's Press (April 1, 2005)
1. Tin rằng ưu tiêu trước hết là bảo toàn vốn
2. Vì thế, là người ngại rủi ro.
3. Phát triển triết lý đầu tư của riêng mình, điều này thể hiện cá tính. Kết quả là, không có 2 người cùng thành công có cách tiếp cận giống nhau.
4. Phát triển một hệ thống riêng để lựa chọn, mua và bán các khoản đầu tư.
5. Tin rằng đa dạng hóa danh mục thì chỉ vô dụng.
6. Ghét phải trả thuế, và sắp xếp công việc làm ăn để giảm thiếu hóa đơn thuế ma vẫn tuân theo pháp luật.
7. Chỉ đầu tư những gì anh ta hiểu.
8. Từ chối đầu tư mà không đạt tiêu chuẩn. Có thể gắng sức để nói 'không'.
9. Luôn tìm kiếm những cơ hội đầu tư mới mà đạt tiêu chuẩn và luôn năng động tham gia nghiên cứu phân tích.
10. Có sự kiên nhẫn để chờ đợi cho đến khi tìm thấy khoản đầu tư thích hợp.
11. Làm ngay khi đã quyết định.
12. Năm giữ các khoản đầu tư thắng lợi cho đến khi xuất những lý do có thể tiên định để rút lui.
13. Luôn tuân theo hệ thống của riêng mình.
14. Luôn cảnh giác với khả năng mắc sai lầm của mình. Sửa lỗi ngay khi có.
15. Luôn xem sai lầm là kinh nghiệm học tập.
16. Kinh nghiệm tăng thì lợi nhuận cũng tăng.
17. Hầu như không bao giờ nói với ai về những gì anh ta đang làm. Không quan tâm người khác nghĩ gì về quyết định đầu tư của mình.
18. Chuyễn giao thành công hầu hết, nếu không nói là tất cả, trách nhiệm của mình cho người khác.
19. Sống giản dị hơn những gì anh ta có.
20. Làm mọi việc vì khích lệ và hoàn thiện bản thân - không phải vì tiền.
21. Cảm tính khi tham gia quá trình đầu tư; nhưng có thể bỏ lơ bất kì khoản đầu tư cá nhân nào.
22. Sống và thở đầu tư, 24 giờ mỗi ngày.
23. Bỏ tiền vào chỗ cái miệng anh ta. Ví dụ, Warren Buffett có 99 % net worth dưới dạng cổ phiếu Berkshire Hathaway; George Soros, cũng tương tự như vậy, bỏ hầu hết tiền vào Quantum Fund. Cả hai, số phận của đồng tiền của họ cũng giống như của những người tin tưởng bỏ tiền để họ quản lý.
Mark Tier, St. Martin's Press (April 1, 2005)
Thứ Ba, 18 tháng 8, 2009
George Soros Và Đầu Tư Cổ Phiếu
Tờ Reuters đăng tin Quỹ Soros Fund Management của tỷ phú George Soros cuối quý 2 nắm giữ $4.2 billion sau khi giảm tỉ lệ nắm giữ cổ phần ở một số nhà bán lẻ: Wal-Mart Stores, Walgreen Co và Lowe's Cos Inc.
Tờ Reuters cũng đưa tin quỹ này cũng tăng tỉ lệ nắm giữ ở Bank of America, mua vào Dell Inc và Pfizer Inc (dược phẩm).
Thật ra tôi không theo dõi thông tin về quỹ này nhưng tôi muốn nói về khía cạnh lĩnh vực đầu tư.
Ai cũng biết Soros là nhà đầu cơ tiền tệ nổi tiếng về vụ đánh cược đồng bảng Anh xuống giá năm 1992, hay là nhân vật chính trong khủng hoảng kinh tế khu vực ASEAN năm 1997.
Nhưng có lẽ sau hai vụ này, việc đầu tư vào tiền tệ đã không còn thuận lợi như trước. Dĩ nhiên chuyện đầu tư cổ phiếu không phải chỉ mới gần đây.
Nhưng có lẽ hiện nay, quỹ của Soros sẽ tập trung nhiều về mảng đầu tư này.
Tôi chú ý đến một thông tin rằng năm 2004, Warren Buffet và George Soros đã gặp nhau mặc dù 2 người có cái nhìn tương đối khác nhau. Trong những năm 2000, Buffet cũng bắt đầu chú ý nhiều đển mảng fixed assets, còn ngược lại Soros cũng đi đầu tư cổ phiếu. Có lẽ cuộc gặp gỡ này cũng có ảnh hưởng nhất định.
Để ý là trong khủng khoảng tài chính (2008 - ?), Warren Buffet hiện thời trên sổ sách là đã lời lớn khi đầu tư vào Goldman Sachs. Trong khi Soros tiếp tục nâng stake của mình trong Bank Of America.
Tôi nhận ra một điểm chung của Soros và Buffet: Soros luôn nhắc đển "imperfect understanding" (suy nghĩ không hoàn hảo) của những người tham gia thị trường, và có thể chớp lợi nhuận từ việc này, còn Buffet thì luôn có câu "Hãy tham lam khi mọi người sợ hãi".
Tờ Reuters cũng đưa tin quỹ này cũng tăng tỉ lệ nắm giữ ở Bank of America, mua vào Dell Inc và Pfizer Inc (dược phẩm).
Thật ra tôi không theo dõi thông tin về quỹ này nhưng tôi muốn nói về khía cạnh lĩnh vực đầu tư.
Ai cũng biết Soros là nhà đầu cơ tiền tệ nổi tiếng về vụ đánh cược đồng bảng Anh xuống giá năm 1992, hay là nhân vật chính trong khủng hoảng kinh tế khu vực ASEAN năm 1997.
Nhưng có lẽ sau hai vụ này, việc đầu tư vào tiền tệ đã không còn thuận lợi như trước. Dĩ nhiên chuyện đầu tư cổ phiếu không phải chỉ mới gần đây.
Nhưng có lẽ hiện nay, quỹ của Soros sẽ tập trung nhiều về mảng đầu tư này.
Tôi chú ý đến một thông tin rằng năm 2004, Warren Buffet và George Soros đã gặp nhau mặc dù 2 người có cái nhìn tương đối khác nhau. Trong những năm 2000, Buffet cũng bắt đầu chú ý nhiều đển mảng fixed assets, còn ngược lại Soros cũng đi đầu tư cổ phiếu. Có lẽ cuộc gặp gỡ này cũng có ảnh hưởng nhất định.
Để ý là trong khủng khoảng tài chính (2008 - ?), Warren Buffet hiện thời trên sổ sách là đã lời lớn khi đầu tư vào Goldman Sachs. Trong khi Soros tiếp tục nâng stake của mình trong Bank Of America.
Tôi nhận ra một điểm chung của Soros và Buffet: Soros luôn nhắc đển "imperfect understanding" (suy nghĩ không hoàn hảo) của những người tham gia thị trường, và có thể chớp lợi nhuận từ việc này, còn Buffet thì luôn có câu "Hãy tham lam khi mọi người sợ hãi".
Thứ Bảy, 15 tháng 8, 2009
Thẩm Định Due Diligence Trong 10 Bước
Trong tài chính, due diligence là việc thanh kiểm tra, khảo sát, hay thẩm định tính khả thi của một khoản đầu tư. Nhiệm vụ chính của due diligence là xác nhận lại mọi thông tin quan trọng mang tính quyết định của thương vụ mua bán.Nói chung khi tiến hành đầu đều gồm các bước cơ bản sau:
1. Xác định mục tiêu
Việc này là cơ bản, vì đầu tư thường có mục đích cụ thể khác nhau: đầu tư vào một bất động sàn, M&A, đầu tư mạo hiểm, hay đơn thuần đầu tư vào vốn một công ty đang niêm yết. Phức tạp hơn một chút là việc đầu tư nằm trong một danh mục đầu tư định sẵn.
2. Tiếp cận
Tìm kiếm, và tiếp cận với người có liên quan đến khoản đầu tư như chủ bất động sản, chủ doanh nghiệp, nhà khởi nghiệp... để đặt vấn đề và có được những thông tin ban đầu.
3. Due diligence
Đây là bước phân tích khoản đầu tư ở mọi mặt. Có thể gồm những bước nhỏ như: phân tích định lượng sơ bộ, trình bày của management, phân tích due diligence chi tiết (thăm quan thực địa (on-site), kiểm toán, xác minh thông tin, dữ liệu.
Kết quả của việc định giá sẽ là đưa ra một mức giá mua và phác thảo hợp đồng.
4. Thương thảo
Sau khi xem lại hợp đồng, sẽ tiếp cận công ty, đối tác để thảo luận mặc cả về giá.
5. Kết thúc
Tiến hành các thủ tục về pháp lý, cũng như thanh toán sao cho hợp pháp và có lợi.
6. Giám sát
Sau khi hoàn thành mọi thủ tục, việc giám sát tiến độ thực hiện hoặc tình hình hoạt động doanh nghiệp cũng cần thiết.
Ở mỗi công ty có chu trình về đầu tư có thể khác nhau như gộp hoặc tách các bước trên nhưng cơ bản thì đều giống nhau.
Mục đích của bài viết này chú tâm về phần due diligence, vì đây là hoạt động chính và quan trọng bậc nhất.
Xin trích bài viết của tác giả Ryan Barnes có tiêu đề "Due Diligence In 10 Easy Steps ". Bài viết này thiên về phân tích đầu tư vào equity của một công ty từ các nhìn của một công ty quản lý quỹ.
Dưới đây là 10 bước khi làm due diligence.
Bước 1 - Mức vốn hóa của Công ty
Điều này giúp tao tưởng tưởng hoặc có vẽ ra một đồ thì về một công ty dự tính đầu tư, và bước đầu tiên là xem công ty đó to mức nào. Vốn hóa cho ta biết khả năng biết động của giá cổ phiếu, mức dàn trải của của đông sở hữu và thị trường tiêu thụ cuối cùng của công ty. Ví dụ, công ty có vốn lớn hoặc siêu lớn thì có doanh thu ổn định và giá ít biến động. Công ty vốn nhỏ và vừa thì có thể chỉ có một phân khúc thị trường, và có thể sẽ có biến động về lợi nhuận và giá cổ phiếu.
Ta chưa thể quyết định gì ở bước này; chúng ta chỉ thu thập thông tin để tạo bước đầu cho các bước tiếp theo. Khi bạn bắt đầu kiểm tra số liệu doanh thu và lợi nhuận, thì mức vốn hóa sẽ cho ta vài góc nhìn kỹ hơn.
Bạn nên xem xét những chi tiết quan trọng khác: cổ phiếu giao dịch trên sàn nào? Niêm yết hay over-the-counter? Cổ phiếu có niêm yết ở nơi khác như ở nước ngoài hay không? Những thông tin như vậy sẽ trả lời câu hỏi là bạn có thể được sở hữu cổ phiếu hay không.
Bước 2 - Xu hướng Doanh thu, Lợi nhuận, và Biên
Khi bắt đầu coi những số này, tốt nhất bắt đầu với những xu hướng về doanh thu (revenue), lợi nhuận (profit) và biên (margin).
Dò thông tin về xu hướng của doanh thu và lợi nhuận ròng (net income) trong 2 năm trở lại đây. Ở Mỹ, có thể coi trên các trang web như Yahoo! Finance hay Google Finance.
Những trang này cho đường dẫn các báo cáo hàng quý và báo cáo thường niên. Tính nhanh để kiểm tra chỉ số price-to-sales (P/S) ratio và price-to-earnings (P/E) ratio.
Xem những thu thế gần đây của cả hai nhóm số liệu, chú ý xem mức tăng trưởng nó nhấp nhô hay là ổn định hay có sự dao động lớn (trên 50% trong vòng 1 năm).
Các thông số biên cũng nên xem xem liệu chúng tăng, giảm hay vẫn giữ mức cũ. Thông tin này đóng vai trò quan trọng ở mức kế tiếp.
Bước 3 - Các đối thủ cạnh tranh và Ngành
Giờ bạn đã thấy công ty lớn mức nào và tiền kiếm được bao nhiêu, giờ là lúc so sánh ước lượng cái ngành mà trông ty đang hoạt động và các đồi thủ mà nó đang cạnh tranh.
So sánh các thông số biên của 2 hoặc 3 đối thủ. Mỗi công ty một phần nào đó đều có thể so sánh với đối thủ cạnh tranh. Hãy xem những đối thủ chính trong từng mỗi ngành mà công ty hoạt động (cty có thể hoạt động nhiều hơn một ngành). Điều này giúp bạn hiểu rõ thị trường sản phẩm khách hàng cuối cùng của công ty lớn mức độ nào.
Những thông tin về đối thủ có thể tìm thấy trong hồ sơ của công ty trên hầu hết các trang web về nghiên cứu thường có kèm theo ticker hoặc nhưng so sánh trực tiếp để giúp bạn hệ thống danh sách với các tiêu chí nhất định. Nếu bạn không chắc chắn những mộ hình kinh doanh mà công ty hoạt động, bạn nên điền vào tất cả những chỗ trống trước khi nghiên cứu sâu hơn. Thỉnh thoảng khi đọc tin về đối thủ giúp bạn hiểu rõ hơn về công ty mà mình đang phân tích thực sự làm gì.
Bước 4 - Định giá
Giờ là lúc đi thẳng vào các vấn đề trọng tâm của chỉ số P/Es, price/earnings to growth (PEGs) ratio, và các chỉ tương tự vậy -
cho cả công ty mình phân tích và đối thủ.
Ghi chú bất kỳ sự sai khác giữa các đối thủ để nghiên cứu sâu. Sẽ không bất thường khi ta chú tâm vào một đối thủ nào đó ở bước này, nhưng vẫn phải xem xét bám sát due diligence ban đầu trong khi ghi chú về những công ty khác.
Chỉ số P/E ratios có thể tạo phần cơ bản ban đầu khi định giá. Khi mà lợi nhuận có khả năng sẽ biến động (ngay cả những công ty ổn định nhất), thì việc định giá phải dựa trên trailing earnings (tức là lợi nhuận gần đây nhất) hoặc những ước lượng hiện tại. Đây là thước đo cho ta so sánh ngay giữa
nhiều market multiples (tên gọi khác của P/E ratios) hay với các đối thủ trực tiếp.
Sự phân biệt cơ bản giữa "growth stock" (cổ phiếu phát triển) và "value stock" (cổ phiếu giá trị) có thể tíến hành với định hướng là người ta trông đợi thế nào về công ty. Một ý kiến hay đó là kiểm tra những con số lợi nhuận trong vài năm để chắc chắn rằng những số liệu gần đây (cái dùng để tính P/E) đã được "normalized" (điều chỉnh) để không bị hiểu sai lệch nếu có sự chênh lệch lớn trong một kỳ nào đó.
Không dùng chỉ số P/E đơn độc, mà dùng đi kèm với price-to-book (P/B) ratio, chỉ số enterprise multiple và chỉ số price-to-sales (hay revenue) ratio.
Những số nhân multiple hay chỉ số này sẽ làm nổi bật lên việc đánh giá công ty, bởi vì nó có liên quan đến nợ, doanh thu hàng năm, và cân đối kế toán. Mức độ chênh lệc sẽ khác nhau tùy ngành nên việc so sánh cùng số liệu với các đồi thủ là một bước then chốt.
Cuối cùng, chỉ số PEG ratio thể hiện sự dự đoán về tốc độ tăng trưởng lợi nhuận trong tương lai, khác với chỉ số earnings multiple hiện thời. Những cồ phiếu với chỉ số PEG ratios gần bắng 1 được xem là định giá tương đối đúng với thị trường thông thường.
Bước 5 - Ban quản lý và Tỉ lệ sở hữu cổ phiếu
Công ty hiện vẫn đang điều hành bởi sáng lập viên? Hay ban lãnh đạo và hội đồng đã thay đổi xáo trộn thêm nhiều gương mặt mới?
Tuổi hay số năm hoạt động của công ty là một yếu tố lớn ở đây. Công ty trẻ thường có nhiều thành viên sáng lập hơn. Hãy xem xét thông tin cá nhân của các nhân vật chủ chốt để xem họ có những kinh nghiệm gì; thông tin này có thể tìm trên trang web của công ty hoặc sở giao dịch.
Cũng xem xét những sáng lập viên và cấp quản lý có tỉ lệ nắm giữ cổ phiếu cao, và lượng cổ phiếu sợ hữu bởi một công ty tổ chức khác. Tỉ lệ phần trăm sở hữu của công ty tổ chức cho ta thấy công ty đã được tiếp cận đánh giá ở mức độ nào, cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến khối lượng giao dịch. Cân nhắc tỉ lệ sở hứu cá nhân của top managers là điểm cộng, và tỉ lệ thấp là một cảnh báo. Các cổ đông thường được quan tâm tốt nhất khi những người điều hành có cổ phần.
Bước 6 - Kiểm tra Bảng cân đối Kế toán
Rất nhiều thứ phải kiểm tra tính minh bạch của bảng cân đối kế toán, nhưng với mục đích due diligence sơ lược thì một bài kiểm tra nhanh là đủ.
Hãy nhìn vào bảng cân đối kế toán tổng hợp để toàn bộ về tài sản assets và nợ liabilities, hãy đặc biệt chú ý đến lượng tiền mặt (khả năng chi trả các khoản nợ ngắn hạn) và các khoản nợ dài hạn của công ty. Công ty có nhiều khoản nợ không nhất thiết là một điều xấu. Điều này phụ thuộc nhiều vào loại hình công ty. Một vài công ty (và cả các công ty khác cũng ngành) có lượng vốn thừa rất lớn, trong khi số khác thì đòi hỏi vốn nhiều hơn cho các vấn đề cơ bản về lao động, trang thiết bị hay ý tưởng sáng tạo. Hãy nhìn tỉ lệ nợ trên vốn debt-to-equity ratio để xem vốn của công ty có cân đối không và bạn có thể so sánh chúng với các đối thủ để tạo thước đo với nhiều khía cạnh hơn.
Những hàng đầu của bảng cân đối kế toán cho ta thấy số liệu tổng quát. Nếu tổng tài sản, tổng nợ và vốn chủ sở hữu (total assets, total liabilities and stockholders' equity) thay đổi rõ rệt từ năm này sang năm khác, hãy cố gắng tìm hiểu lý do.
Đọc thuyết minh, ghi chú (footnotes) kèm theo báo cáo tài chính và thảo luận của ban điều hành (MD&A) về các báo cáo hàng quý hàng năm để rõ thêm về tình hình công ty. Công ty có thể đang chuẩn bị tung ra sản phẩm mới, tích lũy lợi nhuận giữ lại retained earnings, hoặc chỉ đang cắt xén nguồn vốn. Những gì bạn thấy sẽ có cái nhìn cận cảnh hơn sau khi xem xét các xu hướng lợi nhuận gần đây.
Bước 7 - Lịch sử giá cổ phiếu
Ở điểm này, bạn sẽ tóm gọn lại tất cả loại cổ phần (cổ phiếu) đã được giao dịch từ khi nào, và xu hướng giá cả ngắn hạn lẫn dài hạn. Liệu giá luôn biến động hay ổn định? Điều này cho thấy một người năm giự cổ phiếu thông thường có thể kiếm lợi nhuận theo cách nào, và nó cũng ảnh hưởng đến xu thế giá tương lai. Cổ phiếu mà luôn biến động thì thường có nhiều nhà đầu tư ngắn hạn, và như thế có thêm rủi ro.
Bước 8 - Quyền chọn cổ phiếu và Những khả năng điều chỉnh (dilution)
Tiếp theo, nhà đầu tư sẽ cần phải nghiên cứu sâu vào các báo cáo mẫu 10-Q và 10-K (Xin chú thích ở đây là hai loại báo cáo các công ty phải nộp theo yêu cầu theo mẫu của SEC - cơ quan quản lý về thị trường chứng khoán của Mỹ, giống như UBCKNN ở Việt Nam). Các báo cáo nộp cho SEC hàng quý sẽ cho biết hiện công ty đang có những quyền chọn stock options gì, cũng như khả năng mong đợi về giá cổ phiếu trong tương lai khi thực hiện quyền.
Những thứ này sẽ giúp ta hiểu số lượng cồ phiếu sẽ thay đổi khi những kịch bản về giá khác nhau (price scenarios). Trong khi quyền chọn dành cho nhân viên là một động lực lớn, hãy coi chừng những hành vi mờ ám gian lận việc tái phát hành underwater options (tạm dịch là quyền khống); hoặc chú ý thông tin gì liên quan đến điều tra về options backdating (tạm dịch là lui thời gian phát hành quyền)
Bước 9 - Sự kỳ vọng
Nếu cổ phiếu là loại "hỗn tạp" (tức là gồm lôn cả khả năng xấu) thì cần đào sâu hơn. Nhà đầu tư nên tìm hiểu doanh thu lợi nhuận khả thi trong 2-3 năm tới, những xu hướng dài hạn ảnh hưởng đến ngành, và những thông tinchi tiết về partnerships, joint ventures, sở hữu trí tuệ, sản phẩm dịch vụ mới. Những tin tức về sản phẩm mới trong tương lai (gần) có thể điều thu hút bạn đến với cổ phiếu này, và bây giờ là lúc kiểm tra kỹ lưỡng với tất cả những gì bạn có.
Bước 10 - Rủi ro
Tạm gác những chi tiết thiết yếu để chắc chắn rằng chúng ta luôn nhấn mạnh những rủi ro gắn liền đến đầu tư. Chắc chắn rằng mình hiểu cả rủi ro liên quan đến ngành nói chung và công ty nói riêng. Liệu có những vấn đề về quản lý thị trường hay pháp lý nào không hay chỉ vài thông tin về ban lãnh đạo? Công ty co thân thiện môi trường không? Và, có loại rủi ro tiềm tàng mà do những hoạt động liên quan đến môi trường? Nhà đầu tư nên có một
cái nhìn khách quan khi tưởng tượng ra những tình huống xấu nhất và những ảnh hưởng tới cổ phiếu.
Kết luận
Một khi bạn hoàn tất các bước trên, bạn có thể mường trọng trong đầu rằng công ty đã làm ăn như thế nào, và liệu nó thích hợp cho danh mục đầu tư hay chiến thuật đầu tư hay không. Một điều không thể tránh khỏi là bạn sẽ có thông tin chi tiết mà bạn muốn nghiên cứu, nhưng nếu theo sát hướng dẫn này sẽ giúp bạn không bỏ sót nhiều chi tiết mang tính quyết định. Nhà đầu tư lão luyện thường quăng sọt rác nhiều ý tưởng đầu tư (hơn là những cái họ giữ lại), vì thế đừng bao giờ sợ hãi khi bắt đầu lại với một ý tưởng mới và một công ty mới. Có cả chục ngàn công ty để bạn chọn.
Chủ Nhật, 19 tháng 7, 2009
Warren Buffett Đã Nói Gì Với Bill Gates

Tôi định thu thập vài dữ liệu để tập toẹ nhận định kinh tế Việt Nam, nhưng đọc một mẩu tin trên Telegraph có liên quan đến Bill Gates nên viết một chút về việc này.
Bill Gates là chủ tịch tập đoàn Microsoft, bỏ học Harvard nửa chừng, phất lên từ việc bán sản phẩm độc quyền hệ điều hành Windows với thương vụ thành công lớn cho IBM. Bill Gates đã trở thành một biểu tượng của nhà tỷ phú khởi nghiệp từ tay trắng. Tạp chí Forbes luôn xếp Bill Gates vào top đầu những người giàu nhất thế giới. Đối với tôi Warren Buffett mới là người giàu nhất vì tôi nghĩ ông này làm từ thiện nhiều hơn (Năm 2006, Warren Buffett tuyên bố dành cổ phiếu trị giá hơn 37 tỉ USD cho quỹ từ thiện của Bill Gates). Warren Buffett là nhà đầu tư cổ phiếu, xin đi học vô Harvard Business School mà bị từ chối, giàu lên từ việc mua cổ phiếu của những công ty khi giá cồ phiểu của những công ty này nằm dười giá trị thực.
Không rõ chuyện đời tư làm sao hai người trở thành bạn nhưng nghe nói là khoảng 1991 khi mẹ Bill Gates thuyết phục Bill Gates đi dự một hội nghị có Warren Buffett ở đó. Bill Gates không muốn đi vì sợ chẳng biết nói chuyện gì với Warren Buffet.
Bill Gates lập công ty từ những năm 1975, tới năm 1986 mới IPO. Trong suốt sự nghiệp của mình, Bill Gates làm CEO và là chief software architect. Nhưng có lẽ sau những lần gặp gỡ với Warren Buffet cõ lẽ đã thay đổi trong lối suy nghĩ của Bill Gates.
Nếu ai là fan hâm mộ của Robert Kiyosaki với cuốn sách Rich Dad Poor Dad sẽ thấy ngay, Bill Gates là một chủ doanh nghiệp (Business Owner), còn Warren Buffett là nhà đầu tư (Investor)
* E: Employee — Working for someone else.
* S: Self-employed or Small business owner — Where a person owns his own job and is his own boss.
* B: (Boss) Business owner — Where a person owns a "system" of making money, rather than a job to make money.
* I: Investor — Spending money in order to receive a larger payout in.
Ngoài dự án Corbis (1989), Bill Gates có một công ty Cascade Investment LLC lập năm 1994 có lẽ chủ yếu để quản lý tài sản của Bill Gates trong Microsoft. Sau năm 2000, bong bóng dot com vỡ, giá cổ phiểu Microsoft giảm. Tôi nghĩ Bill Gates đã bị ảnh hưởng bởi Warren Buffett và đang trở thành một nhà đầu tư.
Tháng 11/2001, Bill Gates bắt đầu mua Republic Services Inc, một công ty xử lý chất thải trụ sở Phoenix, AZ. Kể từ 9/2008, Bill Gates tiếp tục tăng cổ phần của mình (thông qua Cascade Investment, LLC) trong Republic Services. Tới tháng 3/2009, cổ phần của Cascade chiếm 31.42% (>57 triệu cổ phiếu, giá ~$21.6). Vốn hóa $8.18 billion, P/E ratio 12.6, P/S ratio 2.2.
Đầu 2002, Bill Gates bắt đầu mua ICOS, một công ty phát triển dược phẩm, tuy nhiên năm 2007 công ty này bị một công ty khác là Eli Lilly thâu tóm năm 2007 khi đó Bill Gates nắm 10%.
Sau 2002, Bill Gates bắt đầu mua Canadian National Railway, một công ty vận tải. Cũng kể từ Q4 2008, Bill Gates cũng tăng cổ phần trong Canadian National Railway. Tới 3/2009, Cascade nắm khoảng 35 triệu cổ phiếu (giá hiện $41-42). Từ sau 2002, giá cổ phiếu đã tăng gấp 3 lần. Vốn hoá $19.38 billion, P/E ratio 2.2, P/S ratio 2.7.
Chú ý rằng trong năm 2008, Warren Buffett mua vài công ty về vận tải đường sắt Burlington Northern Santa Fe, Union Pacific, Norfolk Southern khi các hãng này đang gặp khó khăn.
Năm 2002, Bill Gates cũng mua Grupo Televisa S.A. Global Depositary, một công ty truyền thông lớn trong nhóm các nước nói tiếng Spanish. Bill Gates mua khoảng 19.4 triệu cổ p hiếu với giá khoảng $9, Casacade hiện nắm 20.6 triệu cổ phiếu giá hiện thời $17 ~ $18.
Năm 2002, Bill Gates cũng mua Six Flags, một công ty kinh doanh công viên giải trí. Tuy nhiên công ty này làm ăn thua lỗ. Tới năm 2005, Bill Gates lúc này nắm 11% cổ phần, đề nghị thay đổi cách quản lý. Tháng 6/2009, Six Flags nộp đơn xin bảo hộ phá sản.
Năm 2004, Bill Gates làm director trong bộ máy Berkshire Hathaway của Warren Buffett sau khi Susan, vợ Buffet, chết.
Năm 2005, Bill Gates mua 3,580 cổ phiếu của Berkshire Hathaway với giá $87,000. Berkshire Hathaway Inc. vốn hoá $97.93 billion, giá hiện tại $89925 với P/E ratio 17.8 và P/S ratio 0.9. Bill Gates hiện nắm khoảng 4,050 cổ phiếu thường Class-A.
Tháng 6/2006, Bill Gates tuyên bố sẽ làm việc bán thời gian thay vì làm việc toàn thời gian.
Tháng 11/2006, Bill Gates cùng Icahn mua WCI Communities, một công ty xây dựng nhà ở Florida. Bill Gates sau đó đã bán cổ phiếu WCI. Tháng 4, 2007, Icahn trở thành Chairman nhưng hiện WCI phá sản và tái cấu trúc.
Đầu 2007, Bill Gates và hoàng tử Saudi Arabia Alwaleed bin Tala mua chuỗi khách sạn Four Season Hotels với giá S3.8 b.
Tháng 12/2007, Bill Gates mua một công ty đóng chai rượu bia nước giải khát của Mexico tên Femsa (Fomento Economico Mexicano S.A.B. de C.V ) với giá $392M (3%) qua Cascade Investment LLC (giá ~ $32.58). Femsa là công ty đóng chai cho Coca Cola đứng thứ 2 trên thế giới. Vốn hóa $11.67 billion, P/S ratio 0.76.
Nên nhớ Warren Buffett đã thành công khi mua Coca-Cola ở mức giá rẻ.
Tháng 5/2008, Bill Gates mua 3% một công ty bán thảm ở Anh Quốc và Ireland tên Carpetright (£15m)
Tháng 6/2008, Bill Gates cấp vốn cho BIW Technologies, một công ty phần mềm trụ sở tại Woking, Anh Quốc nhưng để xây dựng trụ sở quỹ từ thiện Bill & Melinda Gates Foundation ở Seattle.
Tháng 6/2008, Bill Gates từ bỏ cương vị CEO ở Microsoft, dù vẫn giữ chức chủ tịch.
Tháng 7/2008, Bill Gates mua 5.5% Auto Nation cho quỹ Bill and Melinda Gates Foundation, một trong những công ty mua bán xe hơi lớn nhất Mỹ, lúc giá ~ $22. Cuối 12/2008, cổ phần của Bill Gates là 12.2% (giá lúc này là $8.50).
Tháng 10/2008, Bill Gates lập một công ty về công nghệ tên bgC3 LLC.
Tháng 12/2008, Bill Gates mua Eastman Kodak Company. Tháng 2/2008, Cascade nâng cổ phần lên 5.2%,
Tháng 12/2008, Bill Gates cũng bắt đầu mua Crocs Inc., một công ty sản xuất giày. Vốn hóa $102.92 million, P/E ratio 4.4, P/S ratio 0.12 (tháng 2/2009).
Tháng 6/2009, tờ Telegraph đưa tin Bill Gates mua 3,16 % cổ phần của BBA Aviation, một công ty dịch vụ hàng không trụ sở tại London thông qua Cascade Investment LLC.
Việc mua cổ phần BBA đã thể hiện rõ chiến thuật đầu tư giá trị của Warren Buffett: mua một công ty khi giá trị của nó bị đánh giá thấp vì một lý do nào đó. Năm 2009, các doanh nghiệp vận tải hàng không đều sụt giảm lợi nhuận khiến giá cổ phiếu bị đẩy xuống mức giá thấp. Berkshire Hathaway của Warren Buffet cũng sở hữu một hãng hàng không chuyên về private jet là NetJets (hiện giờ trở thành một subsidiary).
Ngoài ra, Bill Gates cũng mua một khu nhà trên núi Irma lodge ở Wyoming nhưng có lẽ không mang tính đầu tư lắm ($9M).
Tháng 7/2009, tờ Telegraph tiếp tục đưa tin Bill Gates mua 800.000 cổ phiếu JJB Sports (3.14%) trụ sở Wigan, Anh Quốc nhưng qua quỹ Bill & Melinda Gates Foundation.
Những thông tin trên có thể không hoàn toàn đúng vì Bill Gates vừa lập quỹ Bill and Melinda Gates Foundation và công ty đầu tư Cascade Investment LLC do Michael Larson quản lý nên thông tin đôi khi chồng chéo và lẫn lộn.
Quỹ từ thiện Bill and Melinda Gates Foundation thường theo kiểu đa dạng hóa danh mục đầu tư gồm đủ thứ như Bank of Florida Corp, AIG, FedEx, McDonald's, Coca Cola, Exxon Mobil, Caterpillar, Wal-Mart, Johnson & Johnson, Walt Disney ...
Trong khi Cascade Investment thì tập trung hơn vì nó vì mục đích quản lý tài sản nhà Gates.
Những điều trên cho thấy rằng Bill Gates đang chuyển mình thành nhà đầu tư thực thụ. Nếu như Corbis hay bgC3 vẫn thể hiện rõ tính khởi nghiệp kinh doanh thì Bill Gates hiện muốn làm sở hữu nhiều công ty chứ không đơn thuần một như trước đây.
Cascade Investment LLC đặc biệt không nắm giữ cổ phiếu Microsoft và có khoảng 90% đầu tư vào 5 cổ phiếu chính: Canadian National Railway Company (CNI), Republic Services Inc. (RSG), Fomento Economico Mexicano S.A.B. de C.V. (FMX), Berkshire Hathaway Inc. (BRK-A), và Grupo Televisa S.A. Global Depositary (TV).
Điều này mang dáng dấp của Warren Buffett. Bill Gates cũng đầu tư vào một số ngành nhất định, cũng nắm giữ trong thời gian dài (nhiều năm).
Oracle Of Omaha từng nói rằng Bill Gates có thể làm những gì ông ấy làm nhưng ông ấy không thể làm những gì Bill Gates làm.
Thứ Ba, 30 tháng 6, 2009
Đầu Tư Vốn Mạo Hiểm - Venture Capital Investing
Venture capital (Vốn đầu tư mạo hiểm) là một trong những thể loại chính của đầu tư vào private equity (tạm hiểu là cổ phần các công ty chưa niêm yết), và là loại mạng tính "truyền thống" nhất của loại hình đầu tư này. Đầu tư vốn mạo hiểm là đầu tư vào private equity của các công ty nhận vốn kể từ giai đoạn ý tưởng, cho tới giai đoạn bành trướng mở rộng khi công ty đã sản xuất, và bán sản phẩm, cho tới giai đoạn chuẩn bị thoái vốn bằng cách mua lại quyền kiểm soát hay phát hành ra công chúng lần đầu (IPO). Đầu tư vốn mạo hiểm có thể chỉ qua một vài giai đoạn trong suốt tiến trình nhưng việc thoát vốn cuối cùng là vấn đề cân nhắc đầu tiên. Với cái bản chất như vậy, loại hình đầu tư như thế này đòi hỏi một khung thời gian vài năm và sự bằng lòng chấp nhận một vài thất bại với mỗi thành công trong danh mục đầu tư vốn mạo hiểm: Lợi nhuận có thề thu được của những dự án thành công phải bù trừ cho nhiều dự án có thể lỗ.
CÁC GIAI ĐOẠN CỦA ĐẦU TƯ VỐN MẠO HIỂM:
Dưới đây là cách phân loại của Schilit kết hợp với nhiều hệ thông thuật ngữ chuyên môn thông dụng khác.
1. Seed-stage (giai đoạn hạt giống) cấp vồn để đưa ra ý tưởng kinh doanh. Vốn này thường dùng để trang trải việc phát triển sản pphẩm và nghiên cứu thị trường.
2. Early stage (giai đoạn đầu): vốn được cấp cho các công ty để tiền hành hoạt động, trước thời điểm sản xuất mang tính thương mại và bán hàng.
- Start-up (giai đoạn khởi tạo) cấp vốn để công ty chỉ bắt hoạt động mà không có sản phẩm hay dịch vụ thương mại nào. Vốn thường dùng vào việc phát triển sản phẩm và marketing lúc ban đầu.
- First-stage (giai đoạn 1) vốn được cấp để bắt đầu việc sản xuất ra sản phẩm thương mại và bán hàng đầu tiên.
3. Formative-stage (giai đoạn hình thành) bao gồm giai đoạn seed-stage và early-stage.
4. Later-stage (giai đoạn sau) cấp vốn sau khi sản xuất thương mại và bán hàng nhưng trước khi phát hành cổ phần lần đầu ra công chúng (IPO).
- Second-stage (giai đoạn 2) cấp cốn (thử) cho công ty đã sản xuất và bán sản phẩm để mở rộng nhưng có thể không đem lại lợi nhuận.
- Third-stage (giai đoạn 3) cấp vốn mở rộng lớn, như mở rộng quy mô nhà máy, cải tiến sản phẩm, hoặc các chiến dịch marketing trọng yếu.
Giai đoạn 2 và giai đoạn 3 gọi chung là giai đoạn mở rộng (expansion-stage).
- Mezzanine (bridge- giai đoạn cầu nối) cấp vốn để chuẩn bị bước trở thành đại chúng và thể hiện sự tiếp nối giữa một công ty đang mở rộng và việc phát hành ra công chúng lần đầu tiên.
ĐẶC ĐIỂM VỀ ĐẦU TƯ
Tính thanh khoản: Đầu tư vốn mạo hiểm không dễ dàng rút tiền ra trong ngắn hạn. Việc thanh lí hay thoái vốn khỏi các dự án trong danh mục đầu tư phụ thuộc vào việc nhà quản lý qũy có thành công trong việc mua lại quyền kiểm soát hay IPO. Một rủi ro phổ biến là việc nhà quản lý quỹ thiếu kinh nghiệm sẽ phô trương thổi phồng và mang công ty được đầu tư ra thị trường quá sớm, đặc biệt là khi thị trường IPO đang rất thuận lợi. Ngược lại, một thị trường IPO tồi tệ có nghĩa là công ty dù thành công cũng có thể không có được sự thanh khoản ngay lập tức.
Yêu cầu cam kết dài hạn: Đầu tư vốn mạo hiểm đòi hỏi cam kiết dài hạn vì sự thanh khoản đòi hỏi thời gian. Nếu một nhà đầu tư bình thường ngại tính thiếu thanh khoản thì sẽ có phần bù thanh khoản cho vốn mạo hiểm. Vì thế, một nhà đầu tư với khung thời gian dài hơn bình thường có thể liệu trước phần bù này. Điều này không ngạc nhiên khi các khoản đầu tư cho con cái học đại học sử dụng các phương tiện đầu tư vốn mạo hiểm.
Khó khăn trong việc định giá thị trường: Vì không có việc mua bán liên tục các khoản đầu tư trong danh mục đầu tư vốn mạo hiểm, nên không có một cách tính khách quan khi định giá trị hiện tại của danh mục đầu tư. Đều này dẫn tới một vấn đề rắc rối khi khi báo cáo lại giá trị thị trường của phần đầu tư vốn mạo hiểm trong danh mục đầu tư (của một nhà đầu tư).
Hạn chế về dữ liệu lưu trữ về lợi nhuận và rủi ro: Do không có thị trường vốn mạo hiểm hoạt động liên tục, các dữ liệu về lợi nhuận và rủi ro có giới hạn.
Thông tin hạn chế: Vì nhà khởi nghiệp hoạt động trên lĩnh vực trước đây chưa có, nên có rất ít thông tin để dựa vào đó để ước lượng các dòng tiền hay khả năng thành công của dự án.
Nhà khởi nghiệp/nhà quản lý không tương thích: Dù lợi nhuận thúc đẩy nhưng một số nhà khởi nghiệp muốn gắn với thành công của ý tưởng yêu thích của họ thay vì sự thành công của công ty được đầu tư. Trong thời kỳ đầu của một doanh nghiệp, có hai vấn đề cũng hay xảy ra. Một là, nhà khởi nghiệp không phải là một nhà quản lý giỏi, vì vậy việc tồn tại hay tạo ra một đội ngũ lãnh đạo giỏi là có tính quyết định. Thứ hai, sự phát triển mau lẹ đòi hỏi sự thay đổi về chuyên môn lãnh đạo, vì thế nhà khởi nghiệp hay nhà quản lý mà thành công với các công ty nhỏ cần phải thích ứng với những nhu cầu khác của những công ty lớn hơn, hoặc nhà đầu tư sẽ đứng ra thay thế họ.
Động cơ thúc đẩy nhà quản lý quỹ không tương thích: nhà quản lý quỹ c ó thể được trích thưởng dựa vào quy mô kích cỡ của quỹ thay vì thành quả thực hiện của quỹ. Các nhà đầu tư muốn hiệu suất thì phải kiếm nhà quản lý quỹ có động lực thú đẩy tương thích với lợi ích của họ.
Thiếu kiến thức về sự tồn tại của các đối thủ cạnh tranh: Do nhà khởi nghiệp hoạt động trong lĩnh vực trước đây chưa có ai nên họ hoặc chuyên viên phân tích thường có ít cách để dò biết xem có bao nhiêu nhà khởi nghiệp khác đang phát triển những ý tưởng hay sản phầm thay thế khác tại cùng thời điểm. Do vậy, so sánh về tính cạnh tranh của những khoản đầu tư vốn mạo hiểm thì khó khăn hơn cả những khoản đầu tư vào những công ty ở ngành đã được kiến lập.
Cấp vốn theo chu kỳ (vintage cycles): Năm này có thể thuận lợi hơn năm khác. Việc gia nhập hay rút lui khỏi thị trường có thể là nhân tố trong việc này. Nếu quá nhiều doanh nghiệp khởi nghiệp cùng lúc vốn đang tăng, thị trường sẽ cạnh tranh gay gắt và lợi nhuận sẽ giảm. Còn nếu rút lui, tình hình tài chính ảm đạm sẽ làm vốn mạo hiểm bốc hơi, nên một số cty dù có khả năng thành công có thể sẽ không có những khoản tài chính cần thiết. Do vậy, một số năm sẽ có điều kiện để khởi đầu và phát triển hơn những năm khác.
Cần phân tích kỹ về điều hành kinh doanh và nhiều tư vấn: Nhà quản lỹ quỹ cần nhiều kỹ năng ngoài kỹ năng về tài chính. Đầu tư vốn mạo hiểm đòi hỏi phân tích chuyên sâu về đầu tư, nhưng cũng cần kinh nghiệm về quản lý điều hành. Do vậy, một nhà quản lý vốn mạo hiểm có năng lực sẽ phải có cả kinh nghiệm về tài chính và điều hành, và kiến thức về những ngành mới nổi mà nhà khởi nghiệp đang hoạt động. Nhà quản lý vốn mạo hiểm phải có khả năng cố vấn về quản trị tài chính cũng như điều hành.
NHỮNG HÌNH THỨC THOÁI VỐN
Chiến thuật thoái vốn mang tính quyết định trong việc đầu tư vốn mạo hiểm. Những hình thức chính của thoái vốn là trade sales (tạm dịch bán thương mại), IPO sau đó là bán vốn niêm yết, và thanh lý tài sản (write-offs). Trade sales là việc bán hay gộp công ty tư để lấy tiền mặt hoặc cổ phần của công ty mua lại. IPO là việc chào bán cổ phần đã đăng kí ra công chúng. Cổ phần sẽ được chia cho những nhà đầu tư vốn, những người này sau đó có thể bán chúng trên thị trường sau thời kỳ khoá tài khoản giao dịch. (Trường hợp hiếm gặp, có thể bán ngay sau IPO.) Việc thanh lí tài sản là việc thanh lí tự nguyện và có thể có hoặc không mang lại lợi nhuận. Bổ sung vào những hình thức thoái vốn, có thêm trường hợp phá sản, và trường hợp nhà sáng lập mua đứt vốn kiểm soát của nhà đầu tư mạo hiểm vào biến công ty trở thành sở hữu tư nhân và không có cổ đông là doanh nghiệp khác.
Khi tham gia đầu tư vốn mạo hiểm, nhà đầu tư nhận cổ phiếu niêm yết hoặc tiền mặt từ các khoản đầu tư vốn mạo hiểm thu được (hiên kim hoá). Quỹ có thể yêu cầu bổ sung thêm vốn từ số lượng người hùn vốn giới hạn, và có thể chuyển tiền mặt hoặc chia cổ phần tại những thời điểm không cố định trong suốt thời gian hoạt động của quỹ. Nhà đầu tư có thể bán lợi nhuận của họ nếu họ tìm thấy người mua. Và cuối thời hạn hoạt động của quỹ, những công ty có tính thanh khoản thấp (living dead) sẽ được chuyển qua một phương tiện thanh lý (liquidating vehicle) với một khoản phí nhất định. Một vài quỹ có có cấu trúc vòng đời tuần hoàn, các đầutư của quỹ cũ có thể chuyển sang một quỹ mới với những cam kiết mới về tiền vốn.
ĐỊNH GIÁ VÀ ĐO LƯỜNG HIỆU QUẢ THỰC HIỆN
Trong lĩnh vực đầu tư vốn mạo hiểm, việc định giá và đo lường hiệu quả thự hiện là một công việc khó. Điều này đúng với cấp độ của một dự án riêng lẻ, nhưng cũng đúng với cấp độ của khoản đẩu tư trong quỹ đầu tư mạo hiểm.
Định giá và rủi ro của dự án
Định giá một dự án đầu tư vốn mạo hiểm là một việc đầy thách thức. Dù có vài phương pháp định giá được áp dụng, nhưng việc lượng hoá các dòng tiền là rất khó. Đầu tư vào một dự án vốn mạo hiểm nào đó được thúc đẩy bở những khoản lợi nhuận mong đợi lớn khi rút vốn. Nhưng nhiều dự án đứt gánh giữa đường. Ngoài những rủi ro thông thưởng của việc đầu tư vốn, rủi ro của đầu tư vốn mạo hiểm bắt nguồn từ tính bất định cho thể do những nhà khởi nghiệp thiếu kinh nghiệm với những sản phẩm hoặc ý tưởng sản phẩm mang tính đột phá, và thời gian cần cho sự thành công thì khó xác định, dù cho dự án có thành công. Một vài rủi ro riêng biệt của nững dự án đầu tư vốn mạo hiểm xuất phát từ những đặc điểm của loại hình này, như đã miêu tả ở trên. Dĩ nhiên, rủi ro của danh mục đầu tư vốn mạo hiểm thì ít hơn so với chỉ một dự án, bở vì nó đã được đa dạng hoá rủi ro.
Vì thế, có ba tham số chính khi bước vào định giá một dự án đầu tư vốn mạo hiểm:
- Thẩm định khoản lợi nhuận bù mong đợi (expected payoff) khi rút vốn, nếu dự án thành công
- Thẩm định thời điểm rút vốn thành công
- Thẩm định khả năng thất bại
(....bài tập ví dụ về thẩm định....)
Câu trúc payoff của những dự án thực tế thì thường phức tạp nhiều so với ví dụ trên. Những người áp dụng thực tiễn có thể sử dụng cách tiếp cận đa kịch bản (multiple-scenario) để định giá. Trong phương pháp tiếp cận này, các khoản lợi nhuận payoff được mô phỏng theo mỗi kịch bản (từ lạc quan đến bi quan) và được xác định tỉ trọng theo xác suất xảy ra.
Đo lường hiệu quả thực hiện
Nhà đầu tư vào một quỹ đầu tư mạo hiểm cần ước tính hiệu quả thực hiện của khoản đầu tư của họ không chỉ ở thời điểm thanh lí mà cả xuyên suốt thời gian của khoản đầu tư. Việc này thường được thực hiện bắng cách tính toán tỉ suất lợi nhuận nội bộ IRR dựa trên những dòng tiền kể từ khi khởi đầu và định giá khi kết thúc các khoản tài sản còn lại chưa thanh lí (giá trị thặng dư residual value hay giá trị tài sản ròng net asset value).
(...)
Có vài thách thức trong việc đo lường hiệu quả đầu tư vốn mạo hiểm. Lerner (2000) chỉ ra những thách thức này trong một cuộc thảo luận về định hướng tương lai của quỹ endowment fund:
- Khó khăn trong việc đưa cách cách định giá chính xác.Các quỹ vốn mạo hiểm không có giá thị trường để định giá tài sản của chúng, vì thế chúng kỹ thuật giả định để đánh giá các dự án đang hoạt động. Ví dụ, một vài nhả quản lý áp dụng IRR trung bình cho các khoản chi phí đầu tư phát sinh của các dự án đang hoạt động. Tất nhiên, giá trị thực được sử dụng khi rút vốn, hoặc giá trị zero nếu dự án thất bại.
- Thiếu chuẩn so sánh có ý nghĩa để đánh giá các nhà quản lý quỹ và các khoản đầu tư.
- Bản chất dài hạn của các thông tin phản hồi đáng tin cậy về hiệu quả thực hiện của hạng mục tài sản vốn mạo hiểm.
(trực dịch từ sách, dành cho người quan tâm)
(level thấp chỉ cho học như vậy)
( một ý trong bài thi: Early stage bao gồm seed-stage và first-stage, đúng hay sai? :D)
CÁC GIAI ĐOẠN CỦA ĐẦU TƯ VỐN MẠO HIỂM:
Dưới đây là cách phân loại của Schilit kết hợp với nhiều hệ thông thuật ngữ chuyên môn thông dụng khác.
1. Seed-stage (giai đoạn hạt giống) cấp vồn để đưa ra ý tưởng kinh doanh. Vốn này thường dùng để trang trải việc phát triển sản pphẩm và nghiên cứu thị trường.
2. Early stage (giai đoạn đầu): vốn được cấp cho các công ty để tiền hành hoạt động, trước thời điểm sản xuất mang tính thương mại và bán hàng.
- Start-up (giai đoạn khởi tạo) cấp vốn để công ty chỉ bắt hoạt động mà không có sản phẩm hay dịch vụ thương mại nào. Vốn thường dùng vào việc phát triển sản phẩm và marketing lúc ban đầu.
- First-stage (giai đoạn 1) vốn được cấp để bắt đầu việc sản xuất ra sản phẩm thương mại và bán hàng đầu tiên.
3. Formative-stage (giai đoạn hình thành) bao gồm giai đoạn seed-stage và early-stage.
4. Later-stage (giai đoạn sau) cấp vốn sau khi sản xuất thương mại và bán hàng nhưng trước khi phát hành cổ phần lần đầu ra công chúng (IPO).
- Second-stage (giai đoạn 2) cấp cốn (thử) cho công ty đã sản xuất và bán sản phẩm để mở rộng nhưng có thể không đem lại lợi nhuận.
- Third-stage (giai đoạn 3) cấp vốn mở rộng lớn, như mở rộng quy mô nhà máy, cải tiến sản phẩm, hoặc các chiến dịch marketing trọng yếu.
Giai đoạn 2 và giai đoạn 3 gọi chung là giai đoạn mở rộng (expansion-stage).
- Mezzanine (bridge- giai đoạn cầu nối) cấp vốn để chuẩn bị bước trở thành đại chúng và thể hiện sự tiếp nối giữa một công ty đang mở rộng và việc phát hành ra công chúng lần đầu tiên.
ĐẶC ĐIỂM VỀ ĐẦU TƯ
Tính thanh khoản: Đầu tư vốn mạo hiểm không dễ dàng rút tiền ra trong ngắn hạn. Việc thanh lí hay thoái vốn khỏi các dự án trong danh mục đầu tư phụ thuộc vào việc nhà quản lý qũy có thành công trong việc mua lại quyền kiểm soát hay IPO. Một rủi ro phổ biến là việc nhà quản lý quỹ thiếu kinh nghiệm sẽ phô trương thổi phồng và mang công ty được đầu tư ra thị trường quá sớm, đặc biệt là khi thị trường IPO đang rất thuận lợi. Ngược lại, một thị trường IPO tồi tệ có nghĩa là công ty dù thành công cũng có thể không có được sự thanh khoản ngay lập tức.
Yêu cầu cam kết dài hạn: Đầu tư vốn mạo hiểm đòi hỏi cam kiết dài hạn vì sự thanh khoản đòi hỏi thời gian. Nếu một nhà đầu tư bình thường ngại tính thiếu thanh khoản thì sẽ có phần bù thanh khoản cho vốn mạo hiểm. Vì thế, một nhà đầu tư với khung thời gian dài hơn bình thường có thể liệu trước phần bù này. Điều này không ngạc nhiên khi các khoản đầu tư cho con cái học đại học sử dụng các phương tiện đầu tư vốn mạo hiểm.
Khó khăn trong việc định giá thị trường: Vì không có việc mua bán liên tục các khoản đầu tư trong danh mục đầu tư vốn mạo hiểm, nên không có một cách tính khách quan khi định giá trị hiện tại của danh mục đầu tư. Đều này dẫn tới một vấn đề rắc rối khi khi báo cáo lại giá trị thị trường của phần đầu tư vốn mạo hiểm trong danh mục đầu tư (của một nhà đầu tư).
Hạn chế về dữ liệu lưu trữ về lợi nhuận và rủi ro: Do không có thị trường vốn mạo hiểm hoạt động liên tục, các dữ liệu về lợi nhuận và rủi ro có giới hạn.
Thông tin hạn chế: Vì nhà khởi nghiệp hoạt động trên lĩnh vực trước đây chưa có, nên có rất ít thông tin để dựa vào đó để ước lượng các dòng tiền hay khả năng thành công của dự án.
Nhà khởi nghiệp/nhà quản lý không tương thích: Dù lợi nhuận thúc đẩy nhưng một số nhà khởi nghiệp muốn gắn với thành công của ý tưởng yêu thích của họ thay vì sự thành công của công ty được đầu tư. Trong thời kỳ đầu của một doanh nghiệp, có hai vấn đề cũng hay xảy ra. Một là, nhà khởi nghiệp không phải là một nhà quản lý giỏi, vì vậy việc tồn tại hay tạo ra một đội ngũ lãnh đạo giỏi là có tính quyết định. Thứ hai, sự phát triển mau lẹ đòi hỏi sự thay đổi về chuyên môn lãnh đạo, vì thế nhà khởi nghiệp hay nhà quản lý mà thành công với các công ty nhỏ cần phải thích ứng với những nhu cầu khác của những công ty lớn hơn, hoặc nhà đầu tư sẽ đứng ra thay thế họ.
Động cơ thúc đẩy nhà quản lý quỹ không tương thích: nhà quản lý quỹ c ó thể được trích thưởng dựa vào quy mô kích cỡ của quỹ thay vì thành quả thực hiện của quỹ. Các nhà đầu tư muốn hiệu suất thì phải kiếm nhà quản lý quỹ có động lực thú đẩy tương thích với lợi ích của họ.
Thiếu kiến thức về sự tồn tại của các đối thủ cạnh tranh: Do nhà khởi nghiệp hoạt động trong lĩnh vực trước đây chưa có ai nên họ hoặc chuyên viên phân tích thường có ít cách để dò biết xem có bao nhiêu nhà khởi nghiệp khác đang phát triển những ý tưởng hay sản phầm thay thế khác tại cùng thời điểm. Do vậy, so sánh về tính cạnh tranh của những khoản đầu tư vốn mạo hiểm thì khó khăn hơn cả những khoản đầu tư vào những công ty ở ngành đã được kiến lập.
Cấp vốn theo chu kỳ (vintage cycles): Năm này có thể thuận lợi hơn năm khác. Việc gia nhập hay rút lui khỏi thị trường có thể là nhân tố trong việc này. Nếu quá nhiều doanh nghiệp khởi nghiệp cùng lúc vốn đang tăng, thị trường sẽ cạnh tranh gay gắt và lợi nhuận sẽ giảm. Còn nếu rút lui, tình hình tài chính ảm đạm sẽ làm vốn mạo hiểm bốc hơi, nên một số cty dù có khả năng thành công có thể sẽ không có những khoản tài chính cần thiết. Do vậy, một số năm sẽ có điều kiện để khởi đầu và phát triển hơn những năm khác.
Cần phân tích kỹ về điều hành kinh doanh và nhiều tư vấn: Nhà quản lỹ quỹ cần nhiều kỹ năng ngoài kỹ năng về tài chính. Đầu tư vốn mạo hiểm đòi hỏi phân tích chuyên sâu về đầu tư, nhưng cũng cần kinh nghiệm về quản lý điều hành. Do vậy, một nhà quản lý vốn mạo hiểm có năng lực sẽ phải có cả kinh nghiệm về tài chính và điều hành, và kiến thức về những ngành mới nổi mà nhà khởi nghiệp đang hoạt động. Nhà quản lý vốn mạo hiểm phải có khả năng cố vấn về quản trị tài chính cũng như điều hành.
NHỮNG HÌNH THỨC THOÁI VỐN
Chiến thuật thoái vốn mang tính quyết định trong việc đầu tư vốn mạo hiểm. Những hình thức chính của thoái vốn là trade sales (tạm dịch bán thương mại), IPO sau đó là bán vốn niêm yết, và thanh lý tài sản (write-offs). Trade sales là việc bán hay gộp công ty tư để lấy tiền mặt hoặc cổ phần của công ty mua lại. IPO là việc chào bán cổ phần đã đăng kí ra công chúng. Cổ phần sẽ được chia cho những nhà đầu tư vốn, những người này sau đó có thể bán chúng trên thị trường sau thời kỳ khoá tài khoản giao dịch. (Trường hợp hiếm gặp, có thể bán ngay sau IPO.) Việc thanh lí tài sản là việc thanh lí tự nguyện và có thể có hoặc không mang lại lợi nhuận. Bổ sung vào những hình thức thoái vốn, có thêm trường hợp phá sản, và trường hợp nhà sáng lập mua đứt vốn kiểm soát của nhà đầu tư mạo hiểm vào biến công ty trở thành sở hữu tư nhân và không có cổ đông là doanh nghiệp khác.
Khi tham gia đầu tư vốn mạo hiểm, nhà đầu tư nhận cổ phiếu niêm yết hoặc tiền mặt từ các khoản đầu tư vốn mạo hiểm thu được (hiên kim hoá). Quỹ có thể yêu cầu bổ sung thêm vốn từ số lượng người hùn vốn giới hạn, và có thể chuyển tiền mặt hoặc chia cổ phần tại những thời điểm không cố định trong suốt thời gian hoạt động của quỹ. Nhà đầu tư có thể bán lợi nhuận của họ nếu họ tìm thấy người mua. Và cuối thời hạn hoạt động của quỹ, những công ty có tính thanh khoản thấp (living dead) sẽ được chuyển qua một phương tiện thanh lý (liquidating vehicle) với một khoản phí nhất định. Một vài quỹ có có cấu trúc vòng đời tuần hoàn, các đầutư của quỹ cũ có thể chuyển sang một quỹ mới với những cam kiết mới về tiền vốn.
ĐỊNH GIÁ VÀ ĐO LƯỜNG HIỆU QUẢ THỰC HIỆN
Trong lĩnh vực đầu tư vốn mạo hiểm, việc định giá và đo lường hiệu quả thự hiện là một công việc khó. Điều này đúng với cấp độ của một dự án riêng lẻ, nhưng cũng đúng với cấp độ của khoản đẩu tư trong quỹ đầu tư mạo hiểm.
Định giá và rủi ro của dự án
Định giá một dự án đầu tư vốn mạo hiểm là một việc đầy thách thức. Dù có vài phương pháp định giá được áp dụng, nhưng việc lượng hoá các dòng tiền là rất khó. Đầu tư vào một dự án vốn mạo hiểm nào đó được thúc đẩy bở những khoản lợi nhuận mong đợi lớn khi rút vốn. Nhưng nhiều dự án đứt gánh giữa đường. Ngoài những rủi ro thông thưởng của việc đầu tư vốn, rủi ro của đầu tư vốn mạo hiểm bắt nguồn từ tính bất định cho thể do những nhà khởi nghiệp thiếu kinh nghiệm với những sản phẩm hoặc ý tưởng sản phẩm mang tính đột phá, và thời gian cần cho sự thành công thì khó xác định, dù cho dự án có thành công. Một vài rủi ro riêng biệt của nững dự án đầu tư vốn mạo hiểm xuất phát từ những đặc điểm của loại hình này, như đã miêu tả ở trên. Dĩ nhiên, rủi ro của danh mục đầu tư vốn mạo hiểm thì ít hơn so với chỉ một dự án, bở vì nó đã được đa dạng hoá rủi ro.
Vì thế, có ba tham số chính khi bước vào định giá một dự án đầu tư vốn mạo hiểm:
- Thẩm định khoản lợi nhuận bù mong đợi (expected payoff) khi rút vốn, nếu dự án thành công
- Thẩm định thời điểm rút vốn thành công
- Thẩm định khả năng thất bại
(....bài tập ví dụ về thẩm định....)
Câu trúc payoff của những dự án thực tế thì thường phức tạp nhiều so với ví dụ trên. Những người áp dụng thực tiễn có thể sử dụng cách tiếp cận đa kịch bản (multiple-scenario) để định giá. Trong phương pháp tiếp cận này, các khoản lợi nhuận payoff được mô phỏng theo mỗi kịch bản (từ lạc quan đến bi quan) và được xác định tỉ trọng theo xác suất xảy ra.
Đo lường hiệu quả thực hiện
Nhà đầu tư vào một quỹ đầu tư mạo hiểm cần ước tính hiệu quả thực hiện của khoản đầu tư của họ không chỉ ở thời điểm thanh lí mà cả xuyên suốt thời gian của khoản đầu tư. Việc này thường được thực hiện bắng cách tính toán tỉ suất lợi nhuận nội bộ IRR dựa trên những dòng tiền kể từ khi khởi đầu và định giá khi kết thúc các khoản tài sản còn lại chưa thanh lí (giá trị thặng dư residual value hay giá trị tài sản ròng net asset value).
(...)
Có vài thách thức trong việc đo lường hiệu quả đầu tư vốn mạo hiểm. Lerner (2000) chỉ ra những thách thức này trong một cuộc thảo luận về định hướng tương lai của quỹ endowment fund:
- Khó khăn trong việc đưa cách cách định giá chính xác.Các quỹ vốn mạo hiểm không có giá thị trường để định giá tài sản của chúng, vì thế chúng kỹ thuật giả định để đánh giá các dự án đang hoạt động. Ví dụ, một vài nhả quản lý áp dụng IRR trung bình cho các khoản chi phí đầu tư phát sinh của các dự án đang hoạt động. Tất nhiên, giá trị thực được sử dụng khi rút vốn, hoặc giá trị zero nếu dự án thất bại.
- Thiếu chuẩn so sánh có ý nghĩa để đánh giá các nhà quản lý quỹ và các khoản đầu tư.
- Bản chất dài hạn của các thông tin phản hồi đáng tin cậy về hiệu quả thực hiện của hạng mục tài sản vốn mạo hiểm.
(trực dịch từ sách, dành cho người quan tâm)
(level thấp chỉ cho học như vậy)
( một ý trong bài thi: Early stage bao gồm seed-stage và first-stage, đúng hay sai? :D)
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)